21 thg 1, 2011

Xóm Tụ An

Hiệu Minh Blog

Ngã ba sông và núi Thiệu

Ngã ba sông và núi Thiệu. Làng xưa nay còn đâu.

Ngày trước, bến xe Long Biên thường ghi các tên làng quanh Hà nội rất thú vị: Nhổn, Trôi, Chèm, Guột, Mẹt. Làng tôi ở Ninh Bình cũng có tên khá lạ.

Những năm 1940 đói kém, dân trong Tổng Trường Yên, do đất chật người đông, một số rủ nhau ra ngoài ven sông Hoàng Long để lập nghiệp.

Xóm chạy dài hai cây số dọc bờ sông nước xanh mát, nhà nọ cách nhà kia vài trăm mét, rất “qui hoạch”. Sức người đã biến ruộng bỏ hoang, lau sậy mọc thành cái làng yên ả ven sông, nên được gọi là Tụ An.

Đi từ Hà Nội về Ninh Bình, qua cầu Gián Khẩu vài chục mét, thấy con đê nhỏ ven sông Hoàng Long, rẽ phải theo đường trải bê tông vài km, gặp âu thuyền sông Chanh là đến tổ chuồn chuồn của Blog HM. Thêm vài km sẽ đến Tổng Trường Yên, có cố đô Hoa Lư, phía bên kia sông là huyện Gia Viễn.

Ông nội tôi có 5 người con, 4 trai và một gái. Bác đầu tên là Kỳ, bác tiếp nữa là Hai, bố tôi là Ba, hai chú tiếp nữa là Bốn và Năm. Cô út có tên là Sáu. Nếu bạn học chửi chỉ cần văng dãy số “2-3-4-5-6” rất vần.

Ngoài tên gọi thường ngày, ai cũng có một tên húy như bác Thành, chú Cảo, chú Dư, cô Tường. Bố tôi có tên đặc biệt. Làm đơn lên “bỉ” ban, ông ghi “Tên tôi là Giang Tử Hàn, tức Ba”. Mấy anh em đọc trộm cưởi tủm tỉm, sao ông Hàn lại tức ông Ba. Tên cúng cơm không bao giờ lộ ra, hàng xóm réo có thể giết nhau.

Sang Lào làm ăn thất bát do chiến tranh với Xiêm, mấy chú bác rủ nhau làm lò gạch ngã ba sông Hoàng Long và sông Chanh. Từ mom sông trũng nhất, đất vụn, xỉ, gạch vỡ được đổ dần nên nơi đây trở thành cao nhất xóm. Mùa lũ cả vùng mênh mông toàn nước. Khi nước vào sân nhà tôi thì cuối xóm có nhà đã ngập mái gianh. Trẻ con không biết bơi dễ chết đuối. Blog HM hai lần suýt đi gặp Hà Bá.

Thời 1942-1943 làng Hối có núi Thiệu bé tý (thuộc huyện Gia Viễn), đầu trộm đuôi cướp chọn làm nơi trú ẩn. Mấy anh em ngủ đêm trong lều bên lò gạch. Nửa đêm, các tướng bơi sang, mỗi “ông” một mã tấu, chặn hai đầu lều và bắt nộp hết tiền bạc, quần áo hay gạo thóc.

Bác Hai (áo vec) và bố HM

Bác Hai (áo vec) và "chú" Ba

Bác Hai tức lắm. Cụ mua một con mã tấu, mài rất sắc, mấy đêm liền không ngủ trong lều mà nằm ngoài bụi tre. Trộm cướp lại quen mui đến lều, giơ dao dọa. Bác tôi lặng lẽ từ phía sau, giơ mã tấu choảng vào vai “cụ” cầm đầu một nhát. Bị bất ngờ, cả bọn chạy mất. “Tướng” bị chém sả bả vai vẫn bơi qua sông, nghe nói bị mất máu nhiều nên đã chết. Từ đó hết cướp.

Làng có tên lạ, nhưng tên người còn lạ hơn như cụ Dởn, cụ Doạt, ông Bơng, ông Cờng, bà Tộp, ông Đạn, chú Noãn, bà Ba gầu…. Bây giờ không ai đặt tên thế nữa. Bố tôi còn có tên là Ba Lắc vì hồi trẻ cụ khỏe quá, sáng không biết làm gì, ra hiên lắc mỗi cái cột ba cái. Thằng cu lớn nhà này đặt tên là Luck (Lắc – nửa Anh nửa Việt) cũng do lấy tên húy của ông nội.

Dân chết đói, chết trôi bị người ta chôn trộm vào nền nhà và lò gạch trước đó mà không biết. Tối đến, các bà, các chị trong xóm ngồi bắt chấy, cho vào mồm cắn, rồi kể chuyện ma mãnh làm bọn trẻ rởn hết cả tóc gáy, không dám ra đi đái mà toàn đứng ở hiên tương xuống sân.

Ở trên bãi tha ma cũng thấy “lạnh” thật. Rất nhiều lần, mọi người trong nhà kể, có người mặc áo trắng, đội nón trắng, dựng đứng giường lên và đuổi ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng thấy người chết trôi tóc lờ phờ, trương phềnh, dân chết đuối do đắm đò là thường.

Bụi tre quanh nhà thỉnh thoảng thò ra một cái tiểu, bọn trẻ trâu lôi ra và vứt xuống sông. Khi nhà bị giải tỏa để mở rộng cửa sông Chanh thì máy xúc đã làm lộ ra khoảng 30-40 cái tiểu dưới nền nhà và quanh bụi tre, kể cả nhà xí. Ông Nguyễn Khắc Trường lấy làng Tụ An vào tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” chăng?

Làm nhà trên bãi tha ma nên chả bao giờ ăn nên làm ra, quần quật quanh năm vẫn đói vàng mắt. Mẹ tôi đi xem bói, lão thầy phán phải chuyển nhà, cúng bái mới xong. Mỗi lần lão ấy đến, mồm nhai trầu bỏm bẻm, uống rượu mặt đỏ gay rồi chỉ trỏ, nếu ở tiếp thì phải chuyển hướng nhà, phía bờ ao có Tầu yểm bùa nên tháng sau phải cúng mới hết hạn.

Lần cúng sau nghĩa là một con gà luộc, đĩa xôi, chai rượu dù nhà rất nghèo. Cúng giữa sân rồi sau đó mẹ tôi chặt ra cho chính lão ấy chén. Bọn trẻ đói khát chỉ biết “trông mồm”. Hy vọng được cái chận gà gặm thì lão ấy đòi mang về nhờ người khác xem hộ. Ra về còn lấy mấy hào của mẹ tôi. Bọn cậy quyền thế ma mãnh, vơ vét và ăn chặn hết cả miếng ngon của đám trẻ nghèo.

Xã tôi phát động phong trào chống mê tín dị đoan. Bao nhiêu đình chùa miếu mạo biến thành trường học, kho thóc của hợp tác xã, học sinh được huy động đi đập bát hương. Người già lầm bầm, phá hết quá khứ thì định để gì cho tương lai đây.

Chùa Ngô là một ngôi chùa rất cổ kính của tổng Trường Yên và có sư trụ trì. Tương truyền, chùa này rất thiêng, cây đa, cây gạo rất nhiều ma lởn vởn. Mỗi lần đám trẻ lớp 2-3 đi học qua chạy thục mạng vì sợ ma mặc quần áo trắng ra bóp cổ. Nhưng ma và thần linh cũng không giúp gì cho ngôi chùa khỏi bị phá nát bởi những quyết định từ trên xuống cần được “quán triệt”.

Vườn nhà cao nên trồng bắp cải, su hào rất nhiều. Mỗi khi mùa Đông đến, khi đi học lớp 3-4 trường Tổng, tôi hay giúp mẹ chèo thuyền chở rau dọc theo sông Hoàng Long về chợ Trường Yên để bán. Sợ con đói nên bà mua cho 5 xu bánh đúc. Một đứa trẻ lên 10 sau khi đã chèo thuyền 3 km thì đĩa bánh đúc không đủ dính ruột.

Thuyền nay không khác xưa

Thuyền nay không khác xưa

Một thuyền nan chở rau chỉ đủ mua thúng gạo cho cả nhà 10 người ăn trong 3 ngày. Hết ba ngày mà chưa có lứa rau mới chỉ còn cách ăn sắn thay cơm. Ăn ngô, khoai, sắn nhiều quá nên bây giờ, các bạn Hà Nội thích đặc sản quê mời, Blog HM thường lắc đầu vì nhớ lại thời củ khoai cõng 3 hạt cơm.

Sáng sớm mà nước lên thì chèo thuyền rất sướng. Nhưng nếu phiên chợ vào ngày con nước quả là mệt. Có lần sương mù mịt như Chu Du đánh Tào Tháo trên sông Xích Bích. Hai mẹ con thấy thuyền trôi nhanh thích quá, cứ tưởng đã đến chợ, hóa ra thuyền quay mũi lúc nào mà không biết, mất cả phiên chợ, đành bán như cho.

Xã Trường Yên nay đã đổi khác nhiều. Về đây có cảm tưởng cả vùng đất là công trường xây dựng hối hả. Anh Xuân Trường, bạn học của cậu em út, là chủ thầu xây dựng chùa Bái Đính và một con đường cao tốc đi qua 99 ngọn núi. Mấy lần về định tìm gặp anh, nhưng có lẽ khó gặp hơn cả Obama bên Nhà Trắng. Nhìn khu du lịch sinh thái do anh Xuân Trường quản lý cũng thấy rất xứng tầm con cháu Đinh Lê.

Rồi đây Ninh Bình sẽ là thủ đô Phật Giáo của cả nước với chùa Bái Đính có tất cả những cái nhất: chùa to nhất, qui mô nhất, tượng to nhất và rất nhiều cái nhất khác. Ai cũng hỏi, tiền kia ở đâu ra, do ai tài trợ, không hiểu kinh phí có “nhất”.

Nhớ chuyện xưa phá chùa, miếu mạo, đền thiêng. Nay lại xây từ số không. Đợi 1000 năm nữa chùa Bái Đính lại thành một di tích có một không hai trên thế giới nếu không bị tàn phá bởi những “thay đổi bể dâu”.

Phát Diệm có thủ đô Công Giáo với nhà thờ đá đẹp nhất Việt Nam. Bây giờ tỉnh nhà thêm chùa Bái Đính to nhất Đông Dương, thủ đô tâm linh.

Một tỉnh mà có đến hai thủ đô, nếu kể thêm cố đô Hoa Lư 1000 năm thì quê Blog Hiệu Minh có…ba thủ đô.

Vì nhiều thủ đô quá nên dân quê tôi hay lang bạt kiếm ăn xứ người. Đám bạn học phổ thông hoặc ở Hà Nội hay Sài Gòn, có tay trôi dạt sang Mỹ kiếm cơm.

Vùng này theo Lương (Phật) và làng Hối bên kia sông theo Thiên chúa. Hai làng này ít khi gả con cái cho nhau chỉ vì Lương và Giáo không thể sống hợp nhau. Không hiểu Ninh Bình với hai thủ đô Giáo-Lương có “cãi nhau” hay không?

Mỹ cũng vài lần ném bom vào làng Tụ An vì ngã ba sông giấu cái phà cho ô tô qua cầu Gián Khẩu hay có khi anh phi công Mỹ nhìn thấy đàn trâu nên muốn bắn tập chơi. Nhà tôi bị bom phạt gần đổ, HM nghe tiếng bom nổ biết là mình sống.

Kết thúc entry này nhớ người anh đã mất trong chiến tranh. Hồi 10 tuổi, anh ấy đi mót sắn cứu đói trên Hòa Bình với bạn. Một mình đi suốt đêm, qua mấy nơi nổi tiếng nhiều ma, anh về tới bến đò bên Hối.

Đói mệt anh ấy chỉ gọi rất bé “Bu ơi, sang đón tôi”. Tiếng gọi của người đói khát thường yếu ớt nên ít ai nghe thấy. Cả nhà ngủ mê mệt, gọi cả tiếng không ai thưa. Cuối cùng bố tôi giật mình. Sang sông đón thì anh đã gần lả vì đói. Trong bị được 10 cân sắn cho cả nhà sống được mấy ngày.

Ngã ba sông Chanh và sông Hoàng Long nay còn lại bờ đất nhỏ quạnh hiu với những con thuyền lặng lờ trôi. Dòng nước không còn trong xanh như xưa, lục bình đã phủ kín mặt. Các cụ lập làng kể cả bố tôi đã thành người thiên cổ. Người biết về làng Tụ An rõ nhất là mẹ tôi đã 88 tuổi, gần đất xa trời, nhớ nhớ quên quên.

Thấy các em nhỏ nheo nhóc trên thuyền, tôi nghĩ về thời thơ ấu bên bến sông. Xóm làng bao gắn bó nay không còn nữa, chả còn bức ảnh nào kỷ niệm. Sinh ra ở Tụ An nhưng lòng người không mấy khi yên. Nơi chôn rau cắt rốn mất đi rồi mới thấy thương cảm làm sao, thoáng buồn về những tháng ngày xưa bên ngã ba sông.

Lời hát Bến Sông của Trịnh Công Sơn bỗng vẳng bên tai “Bến sông này ngàn năm dấu kín tâm tư//Người xưa bây giờ còn hoài cổ//Ai quay về nghe giọng hò hát Nam Ai, Nam Bình//Nghe rồi buồn vu vơ

Bài và ảnh: Hiệu Minh. Nhân chuyến thăm quê Hoa Lư 7-2009.

1 nhận xét:

Nặc danh nói...

Những người con quê hương xa vạn dặm lại gặp nhau qua Blooge rất gần.