Tranh Tết từ lâu đã trở thành một tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam. Và không chỉ kẻ có tiền mới chơi tranh, người ít tiền cũng có thể chơi tranh. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Tranh Tết là một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu và đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc. Những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.
Hướng tới những chia sẻ hữu ích và giàu tình người của những người con quê hương Trung Trữ, Ninh Giang, Hoa Lư, Ninh Bình - Nơi có nhiều tấm lòng hiếu thảo và gương hiếu học...
25 thg 1, 2011
THÚ CHƠI TRANH TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT
Tranh Tết từ lâu đã trở thành một tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam. Và không chỉ kẻ có tiền mới chơi tranh, người ít tiền cũng có thể chơi tranh. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Tranh Tết là một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu và đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc. Những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.
TRUYỀN THUYẾT VỀ TÁO QUÂN
TRUYỀN THUYẾT VỀ TÁO QUÂNỞ Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:
Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.
Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.
Chợ Tết
Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ gìa chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng nghộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng giỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
24 thg 1, 2011
Lại nhớ cố đô Hoa Lư …

Một Miền Văn Hóa Dân Gian

Giá Trị Di Sản Văn Hóa Cố Đô Hoa Lư Và Khu Du Lịch Sinh Thái Tràng An
Toàn văn Tổng kết Hội thảo khoa học:
“GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ CỐ ĐÔ HOA LƯ VÀ
KHU DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN”
GS.TSKH.Lưu Trần Tiêu
Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam
Được sự nhất trí phối hợp giữa Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Ninh Bình và Hội Di sản Văn hoá Việt Nam, trong 2 ngày 16 và 17/10/2008, tại thành phố Ninh Bình, cuộc Hội thảo với tiêu đề “Giá trị Di sản văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý trên các lĩnh vực khác nhau của Trung ương và địa phương.
Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 21 bản tham luận. Tại Hội thảo, ngoài phát biểu chào mừng của lãnh đạo tỉnh Ninh Bình, ý kiến của Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Báo cáo đề dẫn, vì điều kiện thời gian nên tại hội trường có 18 ý kiến phát biểu.
Các bài tham luận và ý kiến phát biểu của các nhà khoa học tập trung vào một số nội dung sau đây:
1. Đánh giá về giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư
Nhiều ý kiến phân tích, làm nổi bật giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư ở những khía cạnh sau đây:
- Việc đặt tên nước là Đại Cồ Việt và quyết định lập Kinh đô Hoa Lư là sự chuyển biến về chất của lịch sử đất nước và dân tộc ta ở thế kỷ X; (PGS.TS Nguyễn Văn Nhật) là nơi diễn ra và chứng kiến những biến cố quan trọng của đất nước trong gần nửa thế kỷ: dẹp loạn 12 xứ quân thu non sông về một mối; xưng đế, đặt tên nước, dựng Kinh đô, đặt triều nghi, xây dựng nhà nước Trung ương tập quyền, bang giao với bên ngoài, phá Tống, bình Chiêm (Trương Đình Tưởng).
- Kinh đô Hoa Lư không chỉ ghi dấu lịch sử quan trọng của triều Đinh và triều Tiền Lê mà còn chứng kiến một sự kiện đặc biệt có ý nghĩa - Lý Công Uẩn lên ngôi, khai sáng ra nhà Lý với “Chiếu dời đô, áng hùng văn khai sinh Thăng long, mở ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta (Trương Đình Tưởng).
- Có nhà nghiên cứu cho rằng, không thể có văn hoá Lý - Trần nếu không có văn hoá Đinh - Lê (PGS.TS Tống Trung Tín).
2. Về giá trị di tích
- Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu giá trị về kiến trúc, điêu khắc, phù điêu, tượng linh vật tại Di tích Cố đô Hoa Lư như đền thờ Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, lăng mộ của hai nhà vua, chùa Nhất Trụ, chùa Bích Động với đề tặng của vua Lê Cảnh Hưng “Nam thiên đệ nhị động”, đền Thái Vi .v.v. (TS Trần Mạnh Khoa, PGS.TS Trần Lâm Biền, PGS.TS Nguyễn Văn Nhật…), cùng với những tên động, tên núi, tên sông gắn với những dấu ấn lịch sử thời Đinh, Lê, tuy ngắn ngủi (42 năm) nhưng thực sự có ý nghĩa trong tiến trình lịch sử của dân tộc.
- Một số nhà nghiên cứu tìm hiểu về văn bia, câu đối, đại tự, cung cấp những tư liệu quý về triều đại xây dựng các công trình kiến trúc, về quá trình trùng tu di tích và ý nghĩa của văn bia, đại tự, câu đối, là cứ liệu để giúp cho việc xác định di sản đã không còn nữa như Điện Trường Xuân chẳng hạn.
- Một di tích quan trọng của Cố đô Hoa Lư - các vòng thành cũng được một số nhà nghiên cứu đề cập. PGS.TS Nguyễn Văn Nhật cho rằng, Cố đô Hoa Lư đáp ứng được các yêu cầu của lịch sử lúc bấy giờ là “phòng thủ và xây dựng đất nước”, là một công trình kiến trúc thành luỹ vĩ đại, vừa dựa vào thế núi tự nhiên, vừa có công sức của bàn tay con người; hoặc Kinh đô Hoa Lư vừa mang tính chất Kinh đô, vừa mang yếu tố quân thành (Trương Đình Tưởng). Trước đây người ta chỉ nói đến 2 vòng thành là thành Nội và thành Ngoại, nhưng gần đây có người cho là có một thành nữa ở phía Nam gọi là thành Nam. Về 3 vòng thành này GS Lê Văn Lan cũng nhắc đến trong bài tham luận của mình.
- Đối với những di tích gắn với thời Đinh, Lê còn nằm trong lòng đất, theo PGS.TS Tống Trung Tín, các di tích ở đây thường ở trong tình trạng bị huỷ hoại nặng nề, địa tầng không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, trong các hố khai quật cũng thấy sự có mặt đồ gốm, đồ sành Việt Nam, trong đó có một số hiện vật lần đầu tiên tìm thấy như đài sen, hoa cúc, tượng theo phong cách nghệ thuật Đinh - Lê. Có cả hiện vật thời trước đó (thế kỷ thứ VI - VII và IX) và sau đó (thế kỷ XI - XIV), nhưng không xây dựng mới mà chỉ sử dụng lại kiến trúc thời Đinh - Lê. Ở thế kỷ XV - XVI và XVII - XVIII không tìm thấy vết tích kiến trúc mà chỉ có gốm men. Tác giả khẳng định: nghệ thuật kiến trúc và trang trí thời Đinh - Lê phát triển mạnh và định hình được phong cách riêng, khác với nghệ thuật Trung Quốc thời Đường - Tống. Có sự giao lưu với Trung Hoa và có mối liên hệ truyền thống với văn hoá Đông Sơn.
- Đi xa về quá khứ hơn nữa, một số nhà khảo cổ như PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, Nguyễn Cao Tấn đã khảo sát nhiều hang động trong vùng Tràng An, dù phần lớn chưa được khai quật, nhưng qua dấu vết để lại có thể có dấu tích của con người, trong đó có cả thời tiền sử cách đây 5.000 - 30.000 năm.
3. Đánh giá giá trị thiên nhiên
a) Về giá trị thẩm mỹ:
Theo tập thể tác giả Trần Nghi, Doãn Đình Lâm… thì địa hình độc đáo nhất ở Cố đô Hoa Lư và Tam Cốc Bích Động là kiểu karst “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Sự khác biệt của vùng karst Ninh Bình so với Vịnh Hạ Long là “Vịnh Hạ Long trên cạn” không những chỉ có sự so sánh về hình thái mà còn thể hiện cả bản chất của một Hạ Long thực sự trong Holocen giữa (cách đây 6000 năm, biểu hiện cả trên mặt và cảnh quan karst ngầm).
b) Về địa chất địa mạo:
Theo nhiều nhà nghiên cứu về tự nhiên, đặc trưng tiêu biểu nhất của địa chất địa mạo ở đây là số lượng hang động rất phong phú, đa dạng về hình thái, chủng loại, tạo thành từng cụm, thạch nhũ đa dạng, kết cấu tầng lớp liên hoàn; có hang động xuyên thuỷ, hang động thông và hang ngầm. Là karst nhiệt đới điển hình trải qua những giai đoạn tiến hoá lâu dài còn được thể hiện khá rõ trên địa hình và trầm tích, có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu khí hậu và sự tiến hoá địa hình, ghi dấu ấn của các thời kỳ nước biển dâng trong kỷ đệ tứ liên quan đến các đợt gian băng và khí hậu nóng lên; nghiên cứu sự thích nghi của con người trong thời kỳ biển tiến, biển lùi và sự biến đổi của môi trường khí hậu về thời kỳ này. (GS.TSKH Vũ Quang Côn, Doãn Đình Lâm…).
c) Đa dạng sinh học:
Giá trị đa dạng sinh học ở khu vực này thể hiện sự phong phú của thảm thực vật, hệ động vật, hệ sinh thái thực vật, thực vật tảo, động vật nổi, động vật đáy cỡ lớn và các nhóm côn trùng nước, cá (GS.TSKH Vũ Quang Côn, GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn…). Có nhà nghiên cứu (Nguyễn Ngọc Luyên) đã đưa ra những số liệu cụ thể: 577 loài thực vật, trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, 311 loài dùng làm thuốc, động vật thuỷ sinh ngập nước có 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy, trong đó có loài rùa cổ sọc quý hiếm. Theo TS Vũ Thế Long, núi đá vôi, thung lũng đá vôi đầm lầy, sông trong núi đá vôi, sông ngầm, hang động, rừng trên núi đá vôi, hệ động vật và thực vật… mang một sắc thái rất đặc biệt mà không một vùng nào trên đất nước ta có được.
Tuy nhiên, các nhà khoa học đã cảnh báo, theo quy luật của diễn thái tự nhiên thì những thung lũng ngày càng nông dần, có nơi khô cạn sẽ kéo theo sự biến đổi của các dòng chảy trên mặt cũng như các con sông ngầm trong khu vực này mà chưa có một công trình nghiên cứu về sinh thái học được thực hiện một cách đầy đủ .
4. Đánh giá về tiềm năng du lịch
- Theo PGS.TS Phạm Trung Lương, với giá trị lịch sử - văn hoá, văn hoá phi vật thể, làng nghề thủ công truyền thống, công trình tín ngưỡng tôn giáo, môi trường sinh thái… Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An có thể trở thành điểm đến du lịch tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế. Ninh Bình có nhiều lợi thế du lịch: gần các đô thị lớn, nhất là Hà Nội, đường quốc lộ, hệ thống sông dày đặc… Những năm vừa qua hoạt động du lịch có nhiều đổi mới và tiến bộ.
- Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế như: khách lưu trú ở Ninh Bình còn ít do thiếu các cơ sở lưu trú chất lượng cao. Cho tới nay, toàn tỉnh chưa có khách sạn 3 sao nào, sản phẩm du lịch đơn điệu, dịch vụ hạn chế; trình độ quản lý, trình độ ngoại ngữ hạn chế; kết nối tour đưa đón chưa tốt; quảng bá du lịch chưa tương xứng với tiềm năng.
Tài nguyên và môi trường khu vực đang đứng trước nguy cơ suy thoái do tác động của hoạt động khai thác sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển đô thị.
- GS. Hoàng Đạo Kính cho rằng, Ninh Bình cần xác định rõ khu vực mà Hội thảo đang đề cập đến là phát triển kinh tế công nghiệp hay kinh tế du lịch. Theo GS, thiên nhiên đã ưu đãi cho Ninh Bình một thắng cảnh tuyệt vời, một tiềm năng du lịch lớn, một ưu thế vượt trội để phát triển kinh tế du lịch, làm kinh tế công nghiệp ở đây sẽ huỷ hoại môi trường thiên nhiên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên du lịch.
5. Về khả năng xây dựng hồ sơ Di sản Thế giới
Thật ra, trong các bài tham luận rất ít nhà nghiên cứu đề cập đến những tiêu chí mà UNESCO đã hướng dẫn để căn cứ vào đó, các quốc gia đề cử di sản của mình đề nghị UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới. Tuy nhiên, khi phát biểu tại Hội trường thì nhiều nhà khoa học lại đề xuất những kiến nghị cụ thể. Trong bài viết nhan đề “Những vấn đề cần quan tâm khi lập hồ sơ khoa học về Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”, PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn tiêu chí, không đưa ra những ý kiến cụ thể về khả năng khu di tích này có đạt hay không đạt các tiêu chí của UNESCO. Trong bài viết, tác giả nhận xét là Khu Tràng An đã có nhiều hoạt động tác động mạnh đến sự toàn vẹn và tính nguyên gốc khu vực này, như làm đường, đục núi, phá hang, khơi sông, xây chùa mới. Tác giả cho rằng nếu chưa khắc phục được những việc nêu trên thì chưa thể triển khai các công việc tiếp theo.
Trong bài viết của mình, GS Lê Văn Lan đã nêu lên đôi điều phân vân về tiêu đề của Hội thảo “Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”. Vì theo Giáo sư, khi Hoa Lư từ chỗ là Kinh đô trở thành Cố đô thì chính lúc ấy đã được gọi là Tràng An (Trường Yên) rồi. Vấn đề đặt ra là Cố đô Hoa Lư và Khu sinh thái Tràng An là hai hay một? Từ đây liên quan đến tên gọi của di sản mà chúng ta có ý định xây dựng Hồ sơ trình UNESCO. Mối quan hệ giữa khu vực này với khu vực chùa Bái Đính ra sao? Giải quyết như thế nào cho thuyết phục giữa một công trình xây mới như khu chùa Bái Đính với Khu Sinh thái Tràng An cần được bảo tồn nguyên trạng? Với những khu vực khác nhau về tính chất thì phạm vi của di sản như thế nào? Theo Giáo sư, nếu làm hồ sơ thì phải lấy Kinh đô Hoa Lư là trụ cột và liên kết với đâu đó để làm nổi bật giá trị của di sản.
Nhân Hội thảo này, tôi xin được làm rõ một số vấn đề liên quan đến yêu cầu và các tiêu chí của một di sản lập Hồ sơ khoa học trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới:
Trong bản Hướng dẫn 2005 về Hồ sơ các quốc gia đề cử Di sản Thế giới theo Công ước bảo vệ Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, UNESCO nêu 10 tiêu chí, trong đó có 6 tiêu chí văn hoá và 4 di sản thiên nhiên. Xin lưu ý 4 vấn đề của Hồ sơ:
a) Có 3 loại hồ sơ về di sản:
- Về di sản văn hoá (6 tiêu chí).
- Về di sản thiên nhiên (4 tiêu chí), trong đó có 3 hướng tiếp cận:
+ Thẩm mỹ
+ Địa chất địa mạo
+ Đa dạng sinh học
- Hỗn hợp di sản văn hoá và di sản thiên nhiên (mix).
b) Về tính nổi bật toàn cầu cần chú ý 2 yêu cầu:
- Một di sản có giá trị tiêu biểu trong nước, nhưng chưa hẳn đã đạt được tính nổi bật toàn cầu. Yêu cầu của UNESCO là quốc gia đề cử phải so sánh với những di sản khác đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới để xác định giá trị di sản đề cử ở mức độ ra sao?
- Là cơ sở để Thế giới quy chiếu cho việc xác định giá trị những di sản khác của thế giới.
c) Tính chân xác của di sản: thực chất đây là yếu tố nguyên gốc của di sản. Tức là những di tích được xây dựng có niên đại đúng vào thời kỳ lịch sử mà chúng ta đề cử làm hồ sơ. UNESCO không xem xét những công trình được xây dựng để suy tôn của thời đại sau này.
d) Tính toàn vẹn của di sản: đây là khu vực bảo vệ (khu vực lõi và vùng đệm) và sự cam kết của quốc gia về tính toàn vẹn đó. Đây là điều phải cân nhắc kỹ để tránh phải giải trình hàng năm với UNESCO khi chúng ta xây dựng những công trình mới trong khu vực bảo vệ di sản.
Về Hồ sơ Cố đô Hoa Lư, cần tiếp tục nghiên cứu, trao đổi để đi đến xác định xây dựng hồ sơ theo hướng nào?
a) Di sản văn hoá lấy Cố đô Hoa Lư làm nòng cốt. Để làm được điều này cần phải tiến hành khai quật với quy mô lớn để chứng minh thuyết phục được UNESCO về giá trị nguyên gốc của Cố đô Hoa Lư, tức là phát lộ được nền móng của các công trình kiến trúc đủ về số lượng và chất lượng để chứng minh giá trị nổi bật toàn cầu của Cố đô Hoa Lư thời Đinh - Lê (thế kỷ X).
b) Di sản thiên nhiên
- Về thẩm mỹ cần chứng minh Hoa Lư là “Vịnh Hạ Long trên cạn”.
- Về địa chất địa mạo, cần chú ý chứng minh:
+ Môi trường cảnh quan địa chất địa mạo thời kỳ biển tiến biển lùi hiện còn lưu giữ nhiều tư liệu tại Ninh Bình. Nếu có nhiều tư liệu sẽ giúp nghiên cứu về môi trường khí hậu toàn cầu thời kỳ biển tiến biển lùi mà UNESCO đang ưu tiên xây dựng hồ sơ về thiên nhiên, nhất là thiên nhiên biển.
- Về đa dạng sinh học, cần nghiên cứu sâu, có số liệu cụ thể. Chú ý xu hướng của UNESCO là khoanh vùng bảo vệ rộng đối với việc đăng ký theo tiêu chí này. Việc đăng ký khu vực bảo vệ rộng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng kinh tế gắn với khu vực Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An.
Các nhà nghiên cứu đề nghị mở rộng cả Tam Cốc, Bích Động.
c) Di sản hỗn hợp (mix): cần xác định cái gì là trụ cột: Di tích Cố đô Hoa Lư hay di sản thiên nhiên. Điều này còn liên quan đến tên của Hồ sơ mà một cuộc hội thảo không thể giải quyết được.
6. Một số kiến nghị
a) Giá trị các mặt của Cố đô Hoa Lư còn ở dạng tiềm ẩn, chưa đủ cơ sở khoa học với các công trình nghiên cứu sâu, với những cứ liệu được xác định có tính thuyết phục cao về giá trị toàn nổi bật toàn cầu.
Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu kỹ những ý kiến của Hội thảo để đầu tư cho công tác nghiên cứu. Ý kiến chung của các nhà khoa học là nên phát huy vẻ đẹp thiên nhiên, khai thác thế mạnh mà ở các địa phương khác không có được để phát triển làm kinh tế du lịch; nên dịch chuyển phát triển kinh tế công nghiệp đến khu vực khác.
Cần tổ chức những cuộc họp chuyên gia để tư vấn cho tỉnh về hướng xây dựng hồ sơ. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng lưu ý không nên nóng vội vì việc này đòi hỏi thời gian, chuyên gia, kể cả kinh phí không nhỏ.
b) Đề nghị tỉnh tập trung tổ chức thực hiện “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 82/2003/QĐ - TTg ngày 24-4-2003. Trong Quy hoạch này, ngoài các di tích, Quyết định cũng đã nêu đối tượng bảo tồn cả núi đá, hang động, sông, rừng, hệ thống động vật trên núi, dưới nước, văn hoá dân gian, nghề thủ công truyền thống.
Trong Hội thảo này, các nhà khoa học cũng kiến nghị bảo vệ núi đá vôi được coi là “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Xác định ranh giới cụ thể trên bản đồ. Cần tiết kiệm nguồn tài nguyên có thể tái tạo và bảo vệ tốt nhất các tài nguyên không thể tái tạo (Di sản văn hoá).
c) Trước mặt đề nghị UBND tỉnh phối hợp với Cục Di sản văn hoá xây dựng Hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét xếp hạng Di tích Cố đô Hoa Lư là Di tích quốc gia đặc biệt.
d) Đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu việc xây dựng đền vua Lý Thái Tổ tại Hoa Lư.
Bài đăng tại hoidisan.vn
Nghiên Cứu Giá trị Di sản Văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An
Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng thư ký
Hội Di sản Văn hóa Việt Nam
Kính thưa quý vị đại biểu!
Với tiêu đề “Giá trị Di sản Văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”, hôm nay, tại thành phố Ninh Bình, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Hội Di sản Văn hoá Việt Nam tổ chức Hội thảo Khoa học nhằm xác định giá trị lịch sử, văn hoá của Cố đô Hoa Lư và những giá trị địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học và môi trường sinh thái của Khu Du lịch sinh thái Tràng An; đối chiếu với 10 tiêu chí của UNESCO về Di sản Thế giới, làm cơ sở cho việc đề nghị xây dựng Hồ sơ Khoa học đệ trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới.
Kính thưa quý vị đại biểu!
Nghiên cứu 20 bài tham luận gửi tới Hội thảo, Ban Tổ chức vui mừng nhận thấy, tuy số lượng bài viết không nhiều, song có thể khẳng định rằng đó là những bài viết tâm huyết, có chất lượng, am hiểu sâu về những vấn đề mà cuộc Hội thảo của chúng ta mong muốn. Từ những ý kiến phong phú, đa dạng của các bài tham luận, Ban Tổ chức xin tóm lược một số nội dung chính như sau:
Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước, với hơn 800 di tích các loại đã được kiểm kê, trong đó có 78 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 99 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, phản ánh sự phong phú về tiềm năng văn hoá của vùng đất lịch sử này, mà nổi bật nhất phải kể đến Di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư.
Cố đô Hoa Lư là di tích lịch sử - văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia. Kinh đô Hoa Lư tồn tại 42 năm với 6 vị vua của 3 triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý, bắt đầu từ năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân “đại định thiên hạ”, giang sơn thu về một mối, lên ngôi Hoàng đế lập nên Triều đại nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, cho đến năm 1010, khi Lý Công Uẩn hạ chiếu dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Kinh đô Hoa Lư vừa là nơi diễn ra, vừa là nơi chứng kiến những biến cố trọng đại của đất nước, là thành trì quân sự, trung tâm văn hoá lớn, nơi tạo thế và lực cho dân tộc ta phát triển rực rỡ trong các thời kỳ tiếp theo. Kinh đô Hoa Lư được xây dựng dựa trên địa thế hiểm trở, tận dụng điều kiện tự nhiên với các vách núi đá vôi và hệ thống sông ngòi làm thành quách, tạo thế phòng ngự vững chắc, phù hợp với bối cảnh lịch sử của buổi đầu lập nước. Hơn 1000 năm trôi qua, với sự tàn phá của thiên nhiên, sự biến thiên của lịch sử và sự tác động của con người, nhiều di tích đến nay không còn nữa, song, trên mảnh đất này vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích của Cố đô Hoa Lư xưa trải rộng trên diện tích hơn 300 ha thuộc các làng Yên Thượng, Yên Thành và Chi Phong, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ngày nay. Cùng với những di tích trên mặt đất, gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật dưới tầng đất giữa hai đền vua Đinh, vua Lê vốn là nền cung điện cách đây gần 1.000 năm nhiều hiện vật quý giá, minh chứng cho những công trình kiến trúc của Cố đô Hoa Lư và trình độ phát triển về kiến trúc, nghệ thuật, kinh tế, văn hoá xã hội của dân tộc ta thời bấy giờ. Các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra nhiều hiện vật ở thế kỷ thứ X nằm trong lòng đất và tư liệu hiện vật quý giá thời kỳ sau thế kỷ X như các văn bia, câu đối, đại tự và các di vật ở trong đình, đền, chùa, phủ… Đây là những di vật vô giá phản ánh lịch sử, truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta.
Khu Du lịch sinh thái Tràng An nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình, với diện tích 2168 ha trên địa bàn 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và thành phố Ninh Bình. Khu Du lịch sinh thái Tràng An được coi là “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Những dải đá vôi với hang động, thung lũng, sông ngòi hoà quyện vào nhau tạo nên một không gian cực kỳ huyền ảo, trữ tình, kỳ vĩ, ẩn chứa những giá trị tài nguyên du lịch nhân văn to lớn. Tràng An còn được nâng tầm bởi xung quanh nó có nhiều dấu ấn lịch sử với biết bao giá trị mà đất và người nơi đây đã tạo ra. Đó là hệ thống những hang động tự nhiên khá đa dạng về hình thái và chủng loại, mỗi hang đều có một sắc thái riêng biệt, do hiện tượng hoà tan và lắng đọng đá vôi tạo nên nhiều thạch nhũ muôn màu muôn vẻ. Hang động ở khu vực này có đặc điểm là tập trung thành từng cụm, quan hệ mật thiết với nhau. Nhiều hang động chứa đựng trong lòng nó các di tích khảo cổ thời tiền sử, là nơi có nhiều chứng tích về lịch sử hình thành và phát triển của con người cũng như lịch sử của biến động khí hậu toàn cầu, của sự diễn thế môi trường khu vực như: nhiều di vật, dấu tích của người tiền sử cách đây từ 5.000 đến 30.000 năm ở hang Bói, hang Trống, di chỉ khảo cổ học núi đá hang Chợ, núi đá ông Hay và hang núi Thung Bình.v.v.
Nhiều tham luận đã khẳng định rằng: Tràng An là một bảo tàng địa chất ngoài trời. Sự đa dạng về địa chất, địa mạo và hệ thống hang động là kết quả của quá trình hoạt động địa chất trên diện rộng kéo dài hàng trăm triệu năm. Từ biển cả đã biến thành núi non hùng vĩ, từ các núi đá vôi nguyên vẹn đã trở thành hơn 500 hang động lớn nhỏ thuộc nhiều thế hệ khác nhau có tuổi từ 32 triệu năm đến 6.000 năm dưới tác động của sự thay đổi mực nước biển toàn cầu và chuyển động thăng trầm của vỏ trái đất.
Các tham luận cũng nêu rõ giá trị đa dạng sinh học của Khu Du lịch sinh thái Tràng An. Xuất phát từ vị trí địa lý, đất đai và địa mạo, vừa có các dãy núi đá vôi với vách dốc đứng, xen lẫn là các trũng ngập nước thường xuyên hay theo mùa, mặt khác, lại là nơi có nhiều hang động, tạo ra nhiều tiểu vùng có vi khí hậu khác nhau, các hệ sinh thái của Tràng An hết sức đa dạng và mang những nét đặc trưng riêng. Đây là khu vực vừa có hệ sinh thái trên cạn vừa có hệ sinh thái dưới nước. Hệ sinh thái trên cạn hấp dẫn không chỉ về cảnh đẹp mà còn là nơi lưu giữ khoảng 600 loài thực vật, 200 loài động vật trong đó nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ, cùng với sự hiện diện của hàng chục loài mới và đặc hữu. Hệ sinh thái dưới nước ở đây chứa rất nhiều loài sinh vật lạ và quý hiếm, bao gồm khoảng 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy đặc biệt là rùa cổ sọc được coi là động vật quý hiếm cần được bảo vệ…
Giá trị cảnh quan, sinh thái và môi trường của Khu Du lịch sinh thái Tràng An được nhiều tham luận khẳng định. Khối đá vôi Tràng An không chỉ độc đáo, lý thú về lịch sử hình thành và phát triển, mà còn đặc sắc, kỳ vĩ ở hình thù địa mạo. Khu vực Tràng An, Tam Cốc - Bích Động đã tạo thành 2 dạng hệ sinh thái chính là hệ sinh thái trên núi đá vôi và hệ sinh thái thuỷ vực. Sự đa dạng sinh vật của các quần xã là một yếu tố chủ yếu cấu thành 2 hệ sinh thái này. Môi trường thiên nhiên đa dạng và hài hoà giữa sinh vật, núi rừng, hang động, thuỷ vực toát lên cảnh sắc non xanh nước biếc hoà quyện với nhau thành một vùng kỳ vĩ hiếm có trên thế giới.
Bên cạnh các giá trị về thẩm mỹ, đa dạng sinh học, địa chất, địa mạo, văn hoá - lịch sử, Khu Du lịch sinh thái Tràng An còn có các giá trị quý giá khác thể hiện sự sáng tạo, tài hoa của con người nơi đây như các nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hoá phi vật thể khác đến nay vẫn được bảo tồn và phát huy.
Khai thác các giá trị di sản văn hoá dân tộc để phát triển du lịch đã trở thành một định hướng quan trọng của Du lịch Việt Nam. Nhiều tham luận đã khẳng định rằng: Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An là nơi hội tụ nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hoá, cảnh quan và sinh thái. Đó là những tài nguyên du lịch đặc sắc trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của Ninh Bình. Một khi chúng ta biết khai thác và phát huy có hiệu quả các tiềm năng đó, Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An chắc chắn sẽ đóng góp to lớn không chỉ cho du lịch Ninh Bình mà còn cho cả vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước. Từ thực tế đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 4 năm 2003. Trong những năm qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng và đã thu được những kết quả bước đầu, song, thực tế lượng khách du lịch đến với Cố đô Hoa Lư, Khu Du lịch sinh thái Tràng An vẫn còn hạn chế. Hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản và hoạt động du lịch chưa có sự phối hợp đồng bộ. Từ tình hình thực tế đó, các tham luận đã nêu ra nhiều giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy tiềm năng du lịch của Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An trong thời gian tới.
Không chỉ người dân Ninh Bình mà nhân dân cả nước chắc chắn đều mong muốn cho Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An trong tương lai sẽ trở thành Di sản Thế giới. Nhưng, điều kiện tiên quyết là phải căn cứ vào giá trị tiêu biểu mang tính toàn cầu của di sản. Liên quan đến vấn đề lập Hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét đưa Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An vào Danh mục Di sản Thế giới, có tham luận đề cập việc xác định tên gọi cho di sản, các giá trị nổi bật toàn cầu của di sản về văn hoá và thiên nhiên, xác định các khu vực di sản để bảo đảm sự toàn vẹn, chân xác của di sản và các quy trình lập hồ sơ.v.v.
Kính thưa quý vị đại biểu!
Ban Tổ chức Hội thảo hy vọng và tin tưởng sâu sắc rằng, thông qua cuộc Hội thảo Khoa học quan trọng này và cùng với những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong nhiều năm, Hội thảo của chúng ta sẽ khẳng định rõ hơn những giá trị tiêu biểu, đa dạng của Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An, đặt ra những vấn đề cần phải tiếp tục tập trung nghiên cứu làm sáng rõ hơn trong thời gian tới, những vấn đề về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đồng thời với tinh thần khách quan khoa học, xuất phát từ giá trị đích thực của Di sản, căn cứ vào 10 tiêu chí Di sản Thế giới của UNESCO nêu lên những đề xuất, kiến nghị xung quanh vấn đề: Liệu rằng Di sản Văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An có đủ giá trị nổi bật toàn cầu để lập Hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới hay không? Nếu đề cử thì sẽ đề cử về giá trị lịch sử - văn hoá hay đề cử về giá trị địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, môi trường sinh thái; đề cử chung cho cả Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An hay tách ra đề cử Cố đô Hoa Lư riêng, Khu Du lịch sinh thái Tràng An riêng, hoặc là trước mắt nên cân nhắc lựa chọn một trong hai nội dung trên, nội dung nào có giá trị tiêu biểu và nổi bật rõ hơn, có tính khả thi hơn thì sẽ đề cử nội dung đó? Trong khi phát biểu ý kiến về vấn đề này, mong các nhà khoa học và các đại biểu nêu rõ: nếu đề nghị lập Hồ sơ ghi vào danh mục Di sản Thế giới thì Di sản sẽ phù hợp với tiêu chí nào trong 10 tiêu chí Di sản Thế giới của UNESCO.
Với tinh thần đó, Ban Tổ chức Hội thảo xin chúc Hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.
Bài đăng tại hoidisan.vn
23 thg 1, 2011
Tập thơ Sưởi Ấm Tình Quê (*) của Nhà giáo Đinh Chí Đạo
Bùi Đình Hiển
SƯỞI ẤM TÌNH QUÊ
Năm các anh nhân tố đầu mùa
Từ đấy nhân ra chi bộ Đảng
Các anh đã nâng cao cờ cách mạng
Hướng con em lớp lớp kế thừa
khất thuế, giảm sưu, tăng công gặt
Thắng lợi đầu mùa có các anh
Từ lớp bùn đen lên đài hạnh phúc
Cả quê hương ngời sáng niềm tin
Gia đình tôi trai gái bảy con
Tiếp bước các anh đứng dưới Đảng kỳ
Cùng dân làng kết vành hoa đỏ
Sưởi ấm tình quê nhân rộng tình người.
CHÚC THỌ CHA 70 TUỔI
Xuân Đinh Sửu – 1977
Mừng Đảng, mừng xuân chúc thọ cha
Niên cao, đức hậu,lộc tài đa
Quế lan hội tụ vui vườn thọ
Con cháu hân hoan đẹp cảnh nhà
Nội ngoại mến yêu người đức độ
Hương lân qúy trọng tính thuận hoà
Gia đình con cháu lòng thành kính
Hai chữ kang cường chúc thọ cha.
Xuân Đinh Sửu
Các con trai gái dâu rể
Các cháu nội ngoại.
NHỚ NỘI
Nội xưa vất vả nuôi thầy
Mẹ con mất sớm đêm ngày nội lo
Lo cho đàn cháu ấm no
Đến lớp đúng giờ, học tập giỏi giang
Việc nhà cửa nội lo toan
Thương đàn cháu nhỏ cơ hàn mồ côi
Nội đi xa đã lâu rồi
Lòng thầy vẫn thấy bồi hồi nhớ thương
Nội đi để lại tấm gương
Đảm đang hiền hậu tình thương chan hòa.
NÚI CHÙA QUÊ TA
Ba tòa thờ Phật cảnh tôn nghiêm
Đại thụ tán xanh toả trước thềm
Lớp lớp hàng cây chen vách đá
Boong boong chuông khánh ấm chùa chiền
Mái chùa cổ kính khu di tích
Miếu Nội hang xưa họp đảng viên
Cờ nghĩa từ đây nhân khắp chốn
Quê ta tất cả đã vùng lên.
TÌNH QUÊ
Quê ta Trung Trữ, xã Ninh Giang
Triều đại Đinh, Lê đã dựng làng
Tây giáp sông Chanh, đông Quốc lộ
Nam gần Tượng Lĩnh, bắc sông Hoàng
Khí thiêng sông núi sinh hào kiệt
Hang động đình chùa tạo cảnh quan
Qúy nhất: tình quê cha đất tổ
Hướng về gốc cũ, lúc giầu sang.
LÚC NGHÈO
Lúc nghèo ta ở với dân làng
Hùng Dũng Cường Kiên Thắm Phượng Đoan
Nhớ kỹ lời cha khi tuổi tác
Không quên ý mẹ lúc lâm sàng
Chắt chiu hạt thóc nơi đồng ruộng
Học tập bài văn dưới mái trường
Nay được lớn khôn công tác tốt
Tình quê thắm thiết qúy hơn vàng.
TÔI SỐNG
Già rồi vui với điền viên
Dưới thì ao cá, trên liền cây xanh
Uốn cây vào thế cho cành
Đây thì “huynh đệ” kia thành “lão mai”
“long thăng” bên “thác đổ” dài
Thảnh thơi ngâm vịnh non đoài cảnh tiên
Chỉ mong cuộc sống bình yên
Cháu con hạnh phúc đoàn viên một nhà
Sớm trưa điếu thuốc ấm trà
Ngắm vườn cây cảnh quả hoa trĩu cành
Trưa về dưới lán lá xanh
Ngả lưng tiếp giữa hương lành quê ta.
TÔI SỐNG
Tôi luôn lấy đức làm đầu
Thật thà ngay thẳng, chẳng cầu hư danh
Lúc nghèo áo rách mong manh
Vẫn luôn ghi giữ phúc lành mai sau
Dù ta mai có sang giầu
Làm sao quên thủa áo nâu một thời
Càng thêm thương những cuộc đời
Như ta từng có một thời đói no
Một miếng khi đói người cho
Cũng là tình nghĩa hơn kho bạc vàng
Khinh phường cạy của vênh vang
Ghét quân trọc phú khoe vàng cậy “đô”
Tự tay gây dựng cơ đồ
Dạy con theo đức Bác hồ vì dân.
ĐƯỢC MÙA
Bình minh vừa hé nụ cười
Nắng vàng trải dát đẹp tươi cánh đồng
Một màu vàng óng mênh mông
Bừng vui nét mặt nhà nông được mùa
Nhà ta cũng gắng thi đua
Cha con hôm sớm nắng mưa đâu sờn
Vụ này lúa cũng tốt hơn
Ấm no đã khá hơn nhiều năm xưa
Bõ công cày cấy sớm trưa
Mấy cơn bão tố, mấy lần mưa giông
Nhà nông vui hội xuống đồng
Lúa thơm hương mới, ấm nồng tình quê
Lúa theo mỗi bước chân về
Lúa đóng nghĩa vụ, xây quê đẹp giầu
Xóm quê thêm mới nhịp cầu
Nhà thêm tầng mới đẹp màu ấm no.
TIỄN CON ĐI CÔNG TÁC
Lần ấy đưa Phượng đến sân ga
Buổi đầu công tác chuyến đi xa
Cha thì bịn rịn giờ đưa tiễn
Con níu thời gian nước mắt nhòa
Ngồi đợi tầu đi, con bên cha
Con thì thơ trẻ, bố phong ba
Tương lai vẫy gọi con đi tới
Sức trẻ đi xây dựng cuộc đời
Tầu đã rời ga chuyển bánh rồi
Tiếng còi dồn báo phút chia phôi
Bàn tay con vẫy, cha thương lắm
Tầu chạy dần xa khuất núi đồi
Tuần sau con gửi thư ra
Anh em phấn khởi cha càng vui hơn
Khó khăn con nhé đừng sờn
Vui khỏe tiến bộ lớn khôn cha mừng.
GẶP NGƯỜI XƯA
Bỗng dưng gặp lại người xưa
Ở nơi đất khách giữa trưa nắng hồng
Xa nhau hai mốt mùa đông
Bâng khuâng ngày gặp nói không nên lời
Vẫn đôi mắt cũ người ơi
Tôi từng mong nhớ một thời yêu thương
Những mong hai đứa chung đường…
Gian nhà xưa nhứ lời thương năm nào
Thế rồi chẳng biết làm sao
Xa nhau từ đấy mà nào biết đâu
Hai mươi năm lẻ dãi dầu
Gặp nhau tóc đã đổi màu gió sương
Người đi muôn nẻo vấn vương
Đời tôi cũng lăm đoạ trường gian nan
Hình ta, già với thời gian
Lòng ta vẫn ấm muôn vàn yêu thương.
TIẾC
Còn đang giấc mộng u ơ
Gió lay tỉnh giấc nàng thơ đã vào
Bấy lâu người vẫn ước ao
Đến nay tới gặp người sao vội nằm
Ghé tai nàng mới nhủ thầm
Làm thơ khó nhất tìm vần gọt câu
Sao cho lời đẹp ý sâu
Nói xong nàng vội gật đầu vội đi
Tiếc mình chưa tỉnh cơn mê
Để nàng chợt đến chợt đi tiếc hoài.
ĐƯỜNG VỀ LÀNG
Đường làng nay rộng rãi thênh thang
Xe cơ giới ngày đêm qua lại
Hai chiều tránh nhau không sợ hãi
Những khó khăn thủa ấy qua rồi
Đường “30” hàng cây thoáng mát
Đường xóm đông, xóm bắc phong quang
Con đê sông Chanh cao sừng sững
Đẹp mắt thay những tuyến đường làng
Cờ chiến thắng mang lại niềm vui
“Bàn tay ta làm nên tất cả”
Con đường xưa “sống trâu” hẹp nhỏ
Đã biến đi theo với thời gian.
THẦY VUI
Keo ốm vừa qua đến với thầy
Tưởng như tính mệnh đã xa bay
Trước ơn thầy thuốc tận tình chữa
Công sức các con chăm sóc thầy.
Thầy còn tồn tại đến hôm nay
Về với quê hương hội thọ này
Người có già đi vì tuổi tác
Tâm hồn vui với cảnh hôm nay.
Nội ngoại anh em đến với thầy
Thầy vui con cháu cũng vui lây
Trời xuân ấm áp hoa xuân thắm
Thắm nhất tình quê đến với thầy.
TRÊN ĐẤT THỦ ĐÔ
Mấy tháng trời trên đất Thủ đô
Mơ ước được đi đây đi đó
Thăm lăng Bác, thăm Hồ Hoàn kiếm
Ôn lại thời niên thiếu xa xưa
Xưa Hà Nội “ba sáu phố phường”
Nhà ngói bát úp, đường bàn cờ
Nay Hà Nội nhà tầng cao vút
Điện sao sa sáng cả ngày đêm
Dẫu bệnh tật xóa nhoà mộng ước
Không bi quan, con bệnh lui rồi
Nằm điều dưỡng vui cùng con cháu
Niềm lạc quan liều thuốc trường sinh.
ĐI CHỢ XUÂN
Tết về thong thả đi thăm chợ
Cá thịt rau dưa thịt trắng ngần
Hàng vạn người mua trăm người bán
Chủ hàng chào khách tựa quen thân
Lời nói ngọt ngào khúc hát xuân
Mặt hàng từng loại, gọn từng ngăn
Tiền nào vải ấy không sai sót
Trật tự công bằng thỏa ý dân
Đời đang đổi mới đẹp muôn phần
Khổ sướng xưa nay dễ mấy phân
Nghèo đói đang lùi về dĩ vãng
Nhớ người dìu dắt bước canh tân.
TẾT NHỚ MẸ ƠN CHA
Nhớ mãi một thời lúc tuổi thơ
Xuân này lại nhớ đến xuân xưa
Riêng con canh cánh bao xuân trước
Ơn mẹ nâng niu mãi tận giờ
Sữa chảy thành dòng khúc nhạc thơ
Nhưng rồi vắng mẹ thật không ngờ
Chúng con từ đấy cô đơn chịu
Đời đang ấm cúng gặp bơ vơ
Thế yếu cũng đành phải bước thôi
Bước đi chập chững một con người
Trong lòng chế độ con còn Bố
Bố dạy tu thân những lẽ đời
Gà trống nuôi con chẳng ngại ngần
Mẹ đi khi bố hãy còn xuân
Chăm lo đàn trẻ mau khôn lớn
Tất cả vì con, sống kiệm cần.
Bóng ngựa thời gian biến đổi nhanh
Mẹ ơi xuân đến đẹp như tranh
Bồi hồi mang lại bao xao xuyến
Nhờ bố chúng con đã trưởng thành.
NGHE LỜI THẦY
Trải qua năm tháng đói nghèo
Bát cơm độn sắn, nhà xiêu, áo sờn
Những mong con chóng lớn khôn
Làm thêm của cải sớm hôm ấm lòng.
Hạt gạo bữa bữa đi đong
Đồng lương Nhà giáo nuôi chung tám người.
Mộng giầu thầy ước đến rồi
Cảnh nhà khấm khá gấp mười năm xưa.
Khá rồi càng phải thji đua
Làm ra của cải đã thừa… thừa thêm
Nhìn chung đất nước đi lên
Nhìn xa con thấy trẻ em bụi đời
Nghe lời thầy các con ơi
Bớt tiêu xa xỉ, giúp người sa cơ.
NHỚ QUÊ
Quê hương nguồn gốc tự ông bà
Những muốn về thăm lại ngại xa
Gặp bạn cùng đi đường đỡ tẻ
Tình quê thắm nở đẹp như hoa
Bước đến nhà nào cũng đón đưa
Vui mừng chào hỏi cả sớm trưa
Hai chữ quê hương sao nhớ quá
Họ hàng làng xóm bạn bè xưa.
Xa quê là mấy khoảng ba năm
Như lạ như quen cả chỗ nằm
Lạ lối ra vào, cơm mấy bữa
Màn tuyn cháu mắc, chú sang thăm
Là người nghĩ kĩ cũng hay hay
Lúc nhớ xa quê tính tháng ngày
Về lại nhớ nơi từng ở đậu
Xa thương gần nhớ lạ lùng thay!
TỰ VỊNH
Nhân giống ươm cây gặt tới mùa
Bảy con thành đạt sướng mình chưa
Qua cơn sóng gió trời trong sáng
Gặp hội thanh bình cảnh khác xưa
Biết nắm thời cơ giành thắng lợi
Làm nên sợ nghiệp biết thi đua
Công thành danh toại nhớ ơn Đảng
Nhà bẩy đảng viên trí dũng thừa.
THƠ TÔI
Yêu thơ tha thiết học làm thơ
Từ tuổi mười ba đến mãi giờ
Thơ bạn tôi xem đọc mải miết
Thơ tôi bạn đọc thấy thờ ơ
Thơ như sóng biển sao ôm mộng
Gió mới rung cây vội phất cờ
Xem lại thơ mình tôi tự nhủ
Học rồi học nữa học ra thơ.
NHẮN AI
Có con đom đóm tối vào nhà
Ta nhắn đôi lời mi giúp ta
Bà nó anh linh cùng hưởng lộc
Chồng con mừng đón hội thăng hoa
Chịu đời goá bụa thời son trẻ
Nhận cảnh cô đơn lúc tuổi già
Đảm nhận chức năng người nội trợ
Các con thấu rõ nỗi lòng cha.
RĂNG
Sinh ra ở trên đời
Qúy nhất người chung thủy
Hàm răng là như thế
Nẩy mầm lớn dần lên
Siêng năng lại chuyên cần
Thường xuyên bên cạnh lưỡi
Ăn ở có trên dưới
Luôn cộng khổ đồng cam
Lúc làm việc cùng làm
Cơm ngon cùng canh ngọt
Khi đau cùng thương xót
Sống với ta trọn đời
Lúc làm, lúc nghỉ ngơi
Ngọt bùi cùng chia sẻ
Lo sao chúng mạnh khỏe
Nhờ bác sĩ chuyên khoa
Chỉ cho cách phòng xa
Sau bữa ăn đánh chải
Xin ai đừng có ngại
Thường xuyên giữ vệ sinh
Như chăm sóc người tình
Quên mình cùng sống thác.
MỘNG GIÀU
Thao thức quanh năm giấc mộng giầu
Bạc vàng còn ở mãi đâu đâu
Thần linh, Thổ địa báo điềm tốt
Bồ tát Quan âm gọi đến hầu
Trai bốn, gái ba con có trước
Vàng cân, bạc nén của về sau
Jhuyên răn con cháu theo đường chính
Chí thú làm ăn ắt chóng giầu.
HẾT NỢ
Hết rồi những buổi ăn vay
Qua cơn bĩ cực đến ngày thái lai
Gạo tiền nay chẳng nợ ai
Cũng không còn cảnh sắn khoai bốn mùa
Bao phen có sáng quên trưa
Củi ghi sổ nợ, gạo mua trả dần
Mừng nay đã hết nợ nần
Cảm ơn bè bạn xa gần thương nhau.
CHỌN NGHỀ
Khuyên con phấn đấu chọn nghề riêng
Bách nghệ không bằng một nghệ chuyên
Nghề thợ tài năng cần kĩ xảo
Nghề văn học vấn phải thâm uyên
Thầy lang chữa bệnh nên vì đức
Thầy diáo dạy dân chẳng vị tiền
Góp sức xây đời nghề chính đáng
Tránh nghề thầy bói nói quàng xiên.
CẢNH NHÀ TA
Mồ côi mẹ lúc lên ba
Tủi thân con út cả nhà đều thương
Mẹ con dừng bước giữa đường
Mình cha gánh cả tình thương thay người
Bẩy con đang tuổi ăn chơi
Nhà nghèo mẹ mất cuộc đời xót xa
Sớm trưa mưa nắng xông pha
Ruộng đồng khoai sắn cùng cha tảo tần
Thiếu ăn vay đã bao lần
Nhường cơm cha nhịn để phần cho con
Tảo tần một dạ sắt son
Sớm hôm dạy dỗ mong con nên người
Con ngoan cha cũng vui cười
Mừng cho con đã thành người lớn khôn
Nhà ta nay đã khác xưa
Mái bằng, vườn quả đung đưa trĩu cành
Các con nay đã trưởng thành
Gia đình đoàn tụ phúc lành nhà ta.
DẶN CON
Xây nên xã hội dù hay
Vẫn còn rác rưởi đầu này cuối kia
Bán dâm, bài bạc, xì ke
Thiếu gì họ “Tú” rủ rê vào tròng
Bằng lời đường mật bướm ong
Một khi cổ đã lọt tròng mới hay
Khuyên con - con nhớ điều này
Chính cha đã thấy từ ngày còn xuân
“Bạc bài là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm”
Đời nay còn cái tệ hơn
Si đa ma tuý chập chờn khắp nơi
Dặn con – con hãy nhớ lời
Luôn luôn cảnh giác cho đời bình yên.
VỀ HƯU
Về hưu tuổi ngoại năm mươi
Vườn quê một mảnh vui đời bình yên
Chân từng đi khắp trăm miền
Quê hương hẹn buổi đoàn viên ấm lành
Vườn xưa uốn những cây xanh
Mỗi cây một dáng lá cành vấn vương
Khắp vườn ấm áp mùi hương
Mỗi cây một vẻ bốn phương hợp thành
Mùa thu trời đất trong xanh
Vàng ươm chậu cúc chạnh lòng nhớ ai
Bạn già cho một cành mai
Bắc Nam gần lại đường dài đỡ xa
Bốn mùa bung sắc mở xòa
Ơi màu tứ qúy miền xa hoá gần
Lòng như trẻ lại mùa xuân
Ngàn cây khoe sắc, vạn mầm hồi sinh
Vần thơ làm bạn bên mình
Thêm nhiều tri kỉ ấm tình quê hương.
MUỐN SỐNG THÊM
Tuổi tác như tôi muốn sống thêm
Sống thêm xem xã hội đi lên
Xem ngoài thôn xóm thêm giầu đẹp
Mừng chốn gia đình được ấm êm
Tính trẻ qua đi thời tráng kiện
Tính già hồi lại độ cao niên
Tuổi cao đức tốt lòng thanh thản
Con cháu thảo thiền muốn sống thêm.
HAI ÔNG CHÁU
Đứng ngoài xem mấy trẻ lao xao
Đứa vỗ tay reo đứa ngã nhào
Thằng cháu của ông thì thích thú
Lớp này chẳng đứa nào bằng tao.
Văn điểm cao, toán điểm cao
Cháu được điểm 10 ông phải khao
Hí hí ông ơi cháu thích quá
Cháu ơi ai bảo cháu xưng tao.
Cháu được điểm 10 ông sướng không
Phố này mấy cụ sướng như ông
Ừ thì ông sướng. Nghe ông bảo
Đừng vội khoe khoang chớ nói ngông.
Cháu biết nghe ông cháu mới ngoan
Đã chăm học giỏi lại chăm làm
Học rồi, hoạc nữa cho thêm giỏi
Luôn được điểm 10 ông sướng ran.
NHỚ CÁC ANH
Kính tặng các hương hồn liệt sĩ nhân ngày 27 – 7
Hôm nay tưởng nhớ đến các anh
Những người con trung dũng thành đồng
Những người đã quên mình cho cuộc sống
Cho tương lai cho giấc mộng em thơ
Cho hôm nay Nam - Bắc rợp hoa cờ
Nâng Tổ quốc lên tầm cao rạng rỡ
Hỡi các chị các anh không bao giờ trở lại
Nhưng hồn các anh vẫn còn sống mãi
Trong vần thơ và trang sách mai sau
Trên mỗi nẻo đường màu xanh đất nước
Trong mỗi tấm lòng đang vững bước đi lên
Các anh ơi hãy yên lòng an nghỉ
Chúng tôi đây đang bước tiếp đường đi
Quê hương ta đang đổi mới diệu kì
Vẫn nhớ tới những người con yêu qúy
Xin thắp nén hương cho hồn liệt sĩ
Các anh nằm yên nghỉ giữa tình quê!
NHẮC CON
Gĩư vững gia phong cốt cách nhà
Nhắc con nhớ kĩ những lời cha
Trai lo trọn vẹn điều trung hiếu
Gái giữ thuỷ chung nết thuận hòa
Việc nước nêu cao lòng ái quốc
Việc nhà nhân rộng đức tề gia
Tấm gương nhân nghĩa ông cha để
Tổ triệu tôn bồi đẹp cảnh ta.
LÀ NAM
Là đấng “tu mi” biết tự cường
Biết yêu học vấn, biết nhu cương
Biết xa cờ bạc phường du đãng
Biết tránh rượu chè kẻ bất lương
Là đấng “tu mi” được kính trọng
Là trai hư đốn bị coi thường
Khuyên con tự biết đường kính trọng
Tu dưỡng bản thân chọn một đường.
LÀ NỮ
Là nữ các con nhớ kĩ đây
Mẹ đi “dối” lại những lời này
Siêng làm, chăm học, tính cần mẫn
Đói sạch, rách thơm, dạ thẳng ngay
Vốn liếng làm ăn nên mực thước
Tiêu xài tính toán chớ vung tay
Vào đời qúy nhất lòng chung thủy
Lười biếng “trai lơ” đáng giận thay.
KHÂU ÁO CHO CON
Kiên ơi quần áo rách đâu
Đưa đây thầy tạm vá khâu lại nào
Gửi trong đường chỉ ước ao
Mong con học giỏi sớm vào cấp Ba
Vụng về đường chỉ của cha
Sao bằng tay mẹ ở nhà năm xưa
Con ơi gắng học sớm trưa
Nhịp cầu kiến thức đưa con vào đời
Như chim tung cánh giữa trời
Cho lòng cha được thảnh thơi tuổi già
Gửi vào đường chỉ tình cha
Lớn khôn con nhé cả nhà đều mong.
TÀ ÁO CHA
Kính tặng cha
Lần từng đường chỉ cha khâu
Trên tà áo đã bạc màu thời gian
Bỗng thương bỗng nhớ vô vàn
Một khoảng đời với dáng người đưa kim
Lần theo mũi chỉ con tìm
Tình thương cha dệt trăm nghìn mũi khâu
Thương cha năm tháng dãi dầu
Khôn nguôi tình mẹ thủa đầu nuôi con
Mẹ đi cha vẫn vẹn tròn
Thắt lưng một dạ nuôi con nên người
Mừng cha nay tuổi Bẩy mươi
Lớn khôn càng nhớ công người vá khâu
Áo giờ dẫu đủ sắc màu
Lòng con vẫn ấm tình sâu của thầy.
10 -1996
TUỔI SÁU MƯƠI
Sáu mươi tuổi đến với ta rồi
Con cháu về thăm rộn tiếng cười
Nhà cũ nâng cao nền móng mới
Vườn xưa nhân rộng thắm hoa tươi
Bờ trên nhãn mít thêm sai qủa
Ao dưới trắm mè thỏa sức ngoi
Con cháu thảo hiền lòng trẻ lại
Sáu mươi tròn trĩnh ngỡ năm mươi.
CHÁU VỀ
Nỗi mừng biết mấy chi cân
Cháu về tới cổng qua sân vào nhà
Ngắm nhìn mãi mới nhận ra
Ông dang tay đón cháu xòa ôm ông
Đã lâu nay được bế bồng
Ông thơm vuốt mãi má hồng cháu yêu
Cháu đòi ông vót cánh diều
Hân hoan cháu thả ấm chiều quê hương
Hoàng Hoa Huy Thắng yêu thương
Cháu vui ông cũng như dường trẻ ra
Hải Phòng nào có đâu xa
Cháu về ông ngỡ vườn hoa xuân về.
TẤM HÌNH
Từ ngày bà bỏ đi xa
Xóm làng thì nhớ, cả nhà thì thương
Xót xa, gánh đứt giữa đường
Từ nay vắng bóng, âm dương cách rời
Hình người vẫn đấy người ơi
Sao không nói lấy nửa lời yêu thương
Mình tôi gánh nốt đoạn đường
Nuôi con nay đã lớn khôn trưởng thành
Mặc người mối lái mong manh
Thương con nghĩa vợ chẳng đành sang ngang
Bà ơi! Thương phận nhỡ nhàng
Khi nghèo thì gánh, khi sang chẳng còn
Hồn thiêng chứng giám lòng son
Tình tôi giờ vẫn vẹn tròn như xưa
Bà ơi nhớ lúc sớm trưa
Trở trời trái gió nắng mưa tuổi già
Biết rằng con cháu thương cha
Nhưng sao bằng được tay bà chăm ông
Bà ơi nghĩa vợ tình chồng
Ảnh hình vẫn đấy mà không thấy người.
GIẾT HỔ
Mậu Thân năm ấy hổ về làng
Hổ dữ ác hơn cả sói lang
Đảng uỷ họp bàn ra chỉ thị
Dân quân giết hổ cứu dân làng
Giết hổ cứu dân lời Đảng gọi
Dân quân làng nổ súng bao vây
Con mảnh hổ khoang vàng chết cứng
Dân quân làng thêm một chiến công
Cuộc giao tranh giữa hổ và người
Có tổn thất, được bình yên làng xóm
Sức mạnh hợp quần lòng dũng cảm
Quê hương ta giết hổ khao làng.
TRỞ LẠI PHƯƠNG LÂM
Chiều xưa, tôi đến Phương Lâm
Ba giờ đã tối lâm thâm mưa phùn
Rừng cây gặp rét đang run
Đường mòn cỏ rậm ngập bùn bàn chân
Ngày nay lại đến Phương Lâm
Quanh năm là một mùa xuân tưng bừng
Nhà cao lấn chỗ cây rừng
Sao sa toả chiếu đón mừng gần xa
Hoa hô thuỷ điện Sông Đà
Phương Lâm đổi thịt thay da đẹp dần
Điện về sáng đẹp vô ngần
Phương Lâm từ đấy hàn bần vượt qua
Biến dòng nước lũ sông Đà
Thành hồ nuôi cá tưới ra ruộng đồng
Khắp nơi biển lúa mênh mông
Nguồn hàng công nghiệp cây trồng đều tăng
Phương Lâm thay đổi mặt bằng
Công trình mọc khắp dây giăng ngang trời
Phương Lâm nay đã đổi đời
Về thăm nhớ mãi tình người phương Lâm.
GIỖ ÔNG BỐ VỢ
Mồng chín tháng chín giỗ ông
Đạo con dâng cả tấm lòng nhớ ơn
Phúc nhà trai gái bảy con
Hôm nay giỗ ngoại dâng hương một mình
Nén hương chén nước lòng thành
Kính mong cha thấu nỗi tình cháu con
Cũng vì công việc nước non
Các cháu công tác viễn phương chưa về
Kính mong bác cậu cô dì
Thư cho các cháu chưa về giỗ ông
Việc nhà việc nướn hanh thông
Đến ngày trùng cửu giỗ ông đàng hoàng.
QUA TRƯỜNG
Vườn giống tương lai sáng sủa rồi
Qua trường được ngắm những hoa tươi
Hoa Lan toán giỏi xếp hạng nhất
Hoa Quế văn hay được điểm mười
Trường mới khang trang thầy phấn khởi
Học hành tiến bộ lớp đông vui
Nhân nhiều trò giỏi nơi trường sở
Xoá hết trò hư kẻ bụi đời.
MÁI TRƯỜNG THỜI CHIẾN
Thời chiến lớp học trường làng
Dẫy ghế hàng nước, cái bàn chõng tre
Ngày nắng lớp học đầu hè
Ngày mưa lớp học lại bê vào đình
Học trò chơi đáo chơi đinh
Lúc ở sân đình lúc dưới gốc đa
Mỗi khi tiếng kẻng vọng ra
Thầy trò tụt xuống hầm “A” sau đình
Hết thời khói lửa chiến tranh
Lớp học trường mình từng bước khang trang
‘Nếu không có cảnh hoang tàn
Làm chi có cảnh huy hoàng mùa xuân”
Từ mái chảy đến nhà tầng
Thời bình cả bốn mùa xuân mái trường.
XEM BIA TƯỞNG NIỆM
Xem bia tưởng niệm đầu làng
Lòng tôi cảm thấy bàng hoàng đau thương
Bàng hoàng vì bãi chiến trường
Tây càn gây cảnh đau thương cho đời
Hận thù giặc Pháp không nguôi
Đốt nhà cướp của giết người quê tôi
Một thời khói lửa qua rồi
Hận thù ngày ấy khó nguôi không nhòa
Khu làng kháng chiến quê ta
Đặt bia tưởng niệm thiết tha ân tình
Vì dân vì nước hi sinh
Tấm gương liệt sĩ quang vinh muôn đời.
- Trận Tây càn vào làng La Mai ngày 3/2/1948,
- Cháy 200 nóc nhà, 24 người chết(5 du kích, 1 bộ đội,3 cán bộ, 6 dân quân, 9 dân thường)
NHỚ ANH
Kính viếng hương hồn anh Đinh Văn Dư
Anh dẫu đi xa thế giới này
Đinh gia tộc phả có anh đây
Đàn em dòng tộc noi gương sáng
Lớp cháu gia đình nối chí hay
Tốt nghiệp thành chung học vấn giỏi
Quân hàm Đại tá chiến công dày
Trọn đời chiến đấu dưới cờ Đảng
Sống đẹp như anh vinh dự thay.
(*) Bài do bác Bùi Đình Hiển giới thiệu và gửi trực tiếp tới Ban biên tập. Trân trọng cảm ơn bác và xin được một phút lắng lòng tưởng nhớ và Tri Ân Tình Thương - Tài Sản Vô Giá để lại đời của Nhà giáo Đinh Chí Đạo.
