25 thg 1, 2011

THÚ CHƠI TRANH TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT


Trang Thanh Hiền

Tranh Tết từ lâu đã trở thành một tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam. Và không chỉ kẻ có tiền mới chơi tranh, người ít tiền cũng có thể chơi tranh. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Tranh Tết là một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu và đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc. Những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.
Ảnh: Nguyên Vũ
Những ngày trước tết, người Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) mang tranh đi bán khắp nơi, người khắp nơi về đây cất tranh. Tranh Hàng Trống cũng rậm rịch trước đó vài tháng, in in, vẽ vẽ và trưng bày với một số lượng lớn các mẫu hàng hơn thường ngày cho dù lượng khách của thể loại tranh này kén hơn.

TRUYỀN THUYẾT VỀ TÁO QUÂN

TRUYỀN THUYẾT VỀ TÁO QUÂN


Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Chợ Tết

Đoàn Văn Cừ

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ gìa chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng nghộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng giỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.

24 thg 1, 2011

Lại nhớ cố đô Hoa Lư …

Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội kết thúc, chúng ta lại nhớ đến cố đô Hoa Lư, kinh đô đầu tiên của nước Việt Nam độc lập- kinh đô Đại Cồ Việt do Đinh Bộ Lĩnh dựng lên sau khi dẹp loan 12 sứ quân. Cũng từ đây Thái Tổ Lý Công Uẩn đã dời đô về Thăng Long.


Đảo Sy - vũng Thắm nhìn từ trên xuống.

Từ núi yên ngựa, nơi vua Đinh khởi nghiệp đến đền thờ nhà Đinh trên đỉnh núi, qua 10 thế kỷ vẫn như còn vọng lại đâu đây hồn thiêng sông núi, ta đi đò vào vũng Thắm, đảo Sy, nơi đã từng nhuốm máu bao tướng sỹ trong cơn biến loạn …Rồi

Một Miền Văn Hóa Dân Gian

Đã ngót một nghìn năm, kể từ khi Hoa Lư trở thành Cố đô, vùng đất Ninh Bình cổ xưa giờ đã có nhiều đổi khác nhưng âm hưởng giá trị văn hoá lịch sử của kinh đô Hoa Lư vàng son một thưở vẫn còn vang vọng.
Kinh đô Hoa Lư trong lịch sử
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lấy Hoa Lư quê hương là kinh đô. Kinh đô này tồn tại được 41 năm với sự chuyển tiếp 3 triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý. Đại Cồ Việt là nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam sau một thời gian dài Bắc thuộc.

Giá Trị Di Sản Văn Hóa Cố Đô Hoa Lư Và Khu Du Lịch Sinh Thái Tràng An

Toàn văn Tổng kết Hội thảo khoa học:


“GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ CỐ ĐÔ HOA LƯ VÀ
KHU DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN”


GS.TSKH.Lưu Trần Tiêu
Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam


Được sự nhất trí phối hợp giữa Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Ninh Bình và Hội Di sản Văn hoá Việt Nam, trong 2 ngày 16 và 17/10/2008, tại thành phố Ninh Bình, cuộc Hội thảo với tiêu đề “Giá trị Di sản văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý trên các lĩnh vực khác nhau của Trung ương và địa phương.


Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 21 bản tham luận. Tại Hội thảo, ngoài phát biểu chào mừng của lãnh đạo tỉnh Ninh Bình, ý kiến của Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Báo cáo đề dẫn, vì điều kiện thời gian nên tại hội trường có 18 ý kiến phát biểu.


Các bài tham luận và ý kiến phát biểu của các nhà khoa học tập trung vào một số nội dung sau đây:


1. Đánh giá về giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư


Nhiều ý kiến phân tích, làm nổi bật giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư ở những khía cạnh sau đây:


- Việc đặt tên nước là Đại Cồ Việt và quyết định lập Kinh đô Hoa Lư là sự chuyển biến về chất của lịch sử đất nước và dân tộc ta ở thế kỷ X; (PGS.TS Nguyễn Văn Nhật) là nơi diễn ra và chứng kiến những biến cố quan trọng của đất nước trong gần nửa thế kỷ: dẹp loạn 12 xứ quân thu non sông về một mối; xưng đế, đặt tên nước, dựng Kinh đô, đặt triều nghi, xây dựng nhà nước Trung ương tập quyền, bang giao với bên ngoài, phá Tống, bình Chiêm (Trương Đình Tưởng).


- Kinh đô Hoa Lư không chỉ ghi dấu lịch sử quan trọng của triều Đinh và triều Tiền Lê mà còn chứng kiến một sự kiện đặc biệt có ý nghĩa - Lý Công Uẩn lên ngôi, khai sáng ra nhà Lý với “Chiếu dời đô, áng hùng văn khai sinh Thăng long, mở ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta (Trương Đình Tưởng).


- Có nhà nghiên cứu cho rằng, không thể có văn hoá Lý - Trần nếu không có văn hoá Đinh - Lê (PGS.TS Tống Trung Tín).


2. Về giá trị di tích

- Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu giá trị về kiến trúc, điêu khắc, phù điêu, tượng linh vật tại Di tích Cố đô Hoa Lư như đền thờ Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, lăng mộ của hai nhà vua, chùa Nhất Trụ, chùa Bích Động với đề tặng của vua Lê Cảnh Hưng “Nam thiên đệ nhị động”, đền Thái Vi .v.v. (TS Trần Mạnh Khoa, PGS.TS Trần Lâm Biền, PGS.TS Nguyễn Văn Nhật…), cùng với những tên động, tên núi, tên sông gắn với những dấu ấn lịch sử thời Đinh, Lê, tuy ngắn ngủi (42 năm) nhưng thực sự có ý nghĩa trong tiến trình lịch sử của dân tộc.


- Một số nhà nghiên cứu tìm hiểu về văn bia, câu đối, đại tự, cung cấp những tư liệu quý về triều đại xây dựng các công trình kiến trúc, về quá trình trùng tu di tích và ý nghĩa của văn bia, đại tự, câu đối, là cứ liệu để giúp cho việc xác định di sản đã không còn nữa như Điện Trường Xuân chẳng hạn.


- Một di tích quan trọng của Cố đô Hoa Lư - các vòng thành cũng được một số nhà nghiên cứu đề cập. PGS.TS Nguyễn Văn Nhật cho rằng, Cố đô Hoa Lư đáp ứng được các yêu cầu của lịch sử lúc bấy giờ là “phòng thủ và xây dựng đất nước”, là một công trình kiến trúc thành luỹ vĩ đại, vừa dựa vào thế núi tự nhiên, vừa có công sức của bàn tay con người; hoặc Kinh đô Hoa Lư vừa mang tính chất Kinh đô, vừa mang yếu tố quân thành (Trương Đình Tưởng). Trước đây người ta chỉ nói đến 2 vòng thành là thành Nội và thành Ngoại, nhưng gần đây có người cho là có một thành nữa ở phía Nam gọi là thành Nam. Về 3 vòng thành này GS Lê Văn Lan cũng nhắc đến trong bài tham luận của mình.


- Đối với những di tích gắn với thời Đinh, Lê còn nằm trong lòng đất, theo PGS.TS Tống Trung Tín, các di tích ở đây thường ở trong tình trạng bị huỷ hoại nặng nề, địa tầng không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, trong các hố khai quật cũng thấy sự có mặt đồ gốm, đồ sành Việt Nam, trong đó có một số hiện vật lần đầu tiên tìm thấy như đài sen, hoa cúc, tượng theo phong cách nghệ thuật Đinh - Lê. Có cả hiện vật thời trước đó (thế kỷ thứ VI - VII và IX) và sau đó (thế kỷ XI - XIV), nhưng không xây dựng mới mà chỉ sử dụng lại kiến trúc thời Đinh - Lê. Ở thế kỷ XV - XVI và XVII - XVIII không tìm thấy vết tích kiến trúc mà chỉ có gốm men. Tác giả khẳng định: nghệ thuật kiến trúc và trang trí thời Đinh - Lê phát triển mạnh và định hình được phong cách riêng, khác với nghệ thuật Trung Quốc thời Đường - Tống. Có sự giao lưu với Trung Hoa và có mối liên hệ truyền thống với văn hoá Đông Sơn.


- Đi xa về quá khứ hơn nữa, một số nhà khảo cổ như PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, Nguyễn Cao Tấn đã khảo sát nhiều hang động trong vùng Tràng An, dù phần lớn chưa được khai quật, nhưng qua dấu vết để lại có thể có dấu tích của con người, trong đó có cả thời tiền sử cách đây 5.000 - 30.000 năm.


3. Đánh giá giá trị thiên nhiên


a) Về giá trị thẩm mỹ:


Theo tập thể tác giả Trần Nghi, Doãn Đình Lâm… thì địa hình độc đáo nhất ở Cố đô Hoa Lư và Tam Cốc Bích Động là kiểu karst “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Sự khác biệt của vùng karst Ninh Bình so với Vịnh Hạ Long là “Vịnh Hạ Long trên cạn” không những chỉ có sự so sánh về hình thái mà còn thể hiện cả bản chất của một Hạ Long thực sự trong Holocen giữa (cách đây 6000 năm, biểu hiện cả trên mặt và cảnh quan karst ngầm).


b) Về địa chất địa mạo:


Theo nhiều nhà nghiên cứu về tự nhiên, đặc trưng tiêu biểu nhất của địa chất địa mạo ở đây là số lượng hang động rất phong phú, đa dạng về hình thái, chủng loại, tạo thành từng cụm, thạch nhũ đa dạng, kết cấu tầng lớp liên hoàn; có hang động xuyên thuỷ, hang động thông và hang ngầm. Là karst nhiệt đới điển hình trải qua những giai đoạn tiến hoá lâu dài còn được thể hiện khá rõ trên địa hình và trầm tích, có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu khí hậu và sự tiến hoá địa hình, ghi dấu ấn của các thời kỳ nước biển dâng trong kỷ đệ tứ liên quan đến các đợt gian băng và khí hậu nóng lên; nghiên cứu sự thích nghi của con người trong thời kỳ biển tiến, biển lùi và sự biến đổi của môi trường khí hậu về thời kỳ này. (GS.TSKH Vũ Quang Côn, Doãn Đình Lâm…).


c) Đa dạng sinh học:


Giá trị đa dạng sinh học ở khu vực này thể hiện sự phong phú của thảm thực vật, hệ động vật, hệ sinh thái thực vật, thực vật tảo, động vật nổi, động vật đáy cỡ lớn và các nhóm côn trùng nước, cá (GS.TSKH Vũ Quang Côn, GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn…). Có nhà nghiên cứu (Nguyễn Ngọc Luyên) đã đưa ra những số liệu cụ thể: 577 loài thực vật, trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, 311 loài dùng làm thuốc, động vật thuỷ sinh ngập nước có 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy, trong đó có loài rùa cổ sọc quý hiếm. Theo TS Vũ Thế Long, núi đá vôi, thung lũng đá vôi đầm lầy, sông trong núi đá vôi, sông ngầm, hang động, rừng trên núi đá vôi, hệ động vật và thực vật… mang một sắc thái rất đặc biệt mà không một vùng nào trên đất nước ta có được.


Tuy nhiên, các nhà khoa học đã cảnh báo, theo quy luật của diễn thái tự nhiên thì những thung lũng ngày càng nông dần, có nơi khô cạn sẽ kéo theo sự biến đổi của các dòng chảy trên mặt cũng như các con sông ngầm trong khu vực này mà chưa có một công trình nghiên cứu về sinh thái học được thực hiện một cách đầy đủ .


4. Đánh giá về tiềm năng du lịch


- Theo PGS.TS Phạm Trung Lương, với giá trị lịch sử - văn hoá, văn hoá phi vật thể, làng nghề thủ công truyền thống, công trình tín ngưỡng tôn giáo, môi trường sinh thái… Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An có thể trở thành điểm đến du lịch tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế. Ninh Bình có nhiều lợi thế du lịch: gần các đô thị lớn, nhất là Hà Nội, đường quốc lộ, hệ thống sông dày đặc… Những năm vừa qua hoạt động du lịch có nhiều đổi mới và tiến bộ.


- Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế như: khách lưu trú ở Ninh Bình còn ít do thiếu các cơ sở lưu trú chất lượng cao. Cho tới nay, toàn tỉnh chưa có khách sạn 3 sao nào, sản phẩm du lịch đơn điệu, dịch vụ hạn chế; trình độ quản lý, trình độ ngoại ngữ hạn chế; kết nối tour đưa đón chưa tốt; quảng bá du lịch chưa tương xứng với tiềm năng.


Tài nguyên và môi trường khu vực đang đứng trước nguy cơ suy thoái do tác động của hoạt động khai thác sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển đô thị.


- GS. Hoàng Đạo Kính cho rằng, Ninh Bình cần xác định rõ khu vực mà Hội thảo đang đề cập đến là phát triển kinh tế công nghiệp hay kinh tế du lịch. Theo GS, thiên nhiên đã ưu đãi cho Ninh Bình một thắng cảnh tuyệt vời, một tiềm năng du lịch lớn, một ưu thế vượt trội để phát triển kinh tế du lịch, làm kinh tế công nghiệp ở đây sẽ huỷ hoại môi trường thiên nhiên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên du lịch.


5. Về khả năng xây dựng hồ sơ Di sản Thế giới


Thật ra, trong các bài tham luận rất ít nhà nghiên cứu đề cập đến những tiêu chí mà UNESCO đã hướng dẫn để căn cứ vào đó, các quốc gia đề cử di sản của mình đề nghị UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới. Tuy nhiên, khi phát biểu tại Hội trường thì nhiều nhà khoa học lại đề xuất những kiến nghị cụ thể. Trong bài viết nhan đề “Những vấn đề cần quan tâm khi lập hồ sơ khoa học về Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”, PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn tiêu chí, không đưa ra những ý kiến cụ thể về khả năng khu di tích này có đạt hay không đạt các tiêu chí của UNESCO. Trong bài viết, tác giả nhận xét là Khu Tràng An đã có nhiều hoạt động tác động mạnh đến sự toàn vẹn và tính nguyên gốc khu vực này, như làm đường, đục núi, phá hang, khơi sông, xây chùa mới. Tác giả cho rằng nếu chưa khắc phục được những việc nêu trên thì chưa thể triển khai các công việc tiếp theo.


Trong bài viết của mình, GS Lê Văn Lan đã nêu lên đôi điều phân vân về tiêu đề của Hội thảo “Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”. Vì theo Giáo sư, khi Hoa Lư từ chỗ là Kinh đô trở thành Cố đô thì chính lúc ấy đã được gọi là Tràng An (Trường Yên) rồi. Vấn đề đặt ra là Cố đô Hoa Lư và Khu sinh thái Tràng An là hai hay một? Từ đây liên quan đến tên gọi của di sản mà chúng ta có ý định xây dựng Hồ sơ trình UNESCO. Mối quan hệ giữa khu vực này với khu vực chùa Bái Đính ra sao? Giải quyết như thế nào cho thuyết phục giữa một công trình xây mới như khu chùa Bái Đính với Khu Sinh thái Tràng An cần được bảo tồn nguyên trạng? Với những khu vực khác nhau về tính chất thì phạm vi của di sản như thế nào? Theo Giáo sư, nếu làm hồ sơ thì phải lấy Kinh đô Hoa Lư là trụ cột và liên kết với đâu đó để làm nổi bật giá trị của di sản.


Nhân Hội thảo này, tôi xin được làm rõ một số vấn đề liên quan đến yêu cầu và các tiêu chí của một di sản lập Hồ sơ khoa học trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới:


Trong bản Hướng dẫn 2005 về Hồ sơ các quốc gia đề cử Di sản Thế giới theo Công ước bảo vệ Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, UNESCO nêu 10 tiêu chí, trong đó có 6 tiêu chí văn hoá và 4 di sản thiên nhiên. Xin lưu ý 4 vấn đề của Hồ sơ:


a) Có 3 loại hồ sơ về di sản:


- Về di sản văn hoá (6 tiêu chí).
- Về di sản thiên nhiên (4 tiêu chí), trong đó có 3 hướng tiếp cận:
+ Thẩm mỹ
+ Địa chất địa mạo
+ Đa dạng sinh học
- Hỗn hợp di sản văn hoá và di sản thiên nhiên (mix).


b) Về tính nổi bật toàn cầu cần chú ý 2 yêu cầu:


- Một di sản có giá trị tiêu biểu trong nước, nhưng chưa hẳn đã đạt được tính nổi bật toàn cầu. Yêu cầu của UNESCO là quốc gia đề cử phải so sánh với những di sản khác đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới để xác định giá trị di sản đề cử ở mức độ ra sao?


- Là cơ sở để Thế giới quy chiếu cho việc xác định giá trị những di sản khác của thế giới.


c) Tính chân xác của di sản: thực chất đây là yếu tố nguyên gốc của di sản. Tức là những di tích được xây dựng có niên đại đúng vào thời kỳ lịch sử mà chúng ta đề cử làm hồ sơ. UNESCO không xem xét những công trình được xây dựng để suy tôn của thời đại sau này.


d) Tính toàn vẹn của di sản: đây là khu vực bảo vệ (khu vực lõi và vùng đệm) và sự cam kết của quốc gia về tính toàn vẹn đó. Đây là điều phải cân nhắc kỹ để tránh phải giải trình hàng năm với UNESCO khi chúng ta xây dựng những công trình mới trong khu vực bảo vệ di sản.


Về Hồ sơ Cố đô Hoa Lư, cần tiếp tục nghiên cứu, trao đổi để đi đến xác định xây dựng hồ sơ theo hướng nào?


a) Di sản văn hoá lấy Cố đô Hoa Lư làm nòng cốt. Để làm được điều này cần phải tiến hành khai quật với quy mô lớn để chứng minh thuyết phục được UNESCO về giá trị nguyên gốc của Cố đô Hoa Lư, tức là phát lộ được nền móng của các công trình kiến trúc đủ về số lượng và chất lượng để chứng minh giá trị nổi bật toàn cầu của Cố đô Hoa Lư thời Đinh - Lê (thế kỷ X).


b) Di sản thiên nhiên
- Về thẩm mỹ cần chứng minh Hoa Lư là “Vịnh Hạ Long trên cạn”.
- Về địa chất địa mạo, cần chú ý chứng minh:
+ Môi trường cảnh quan địa chất địa mạo thời kỳ biển tiến biển lùi hiện còn lưu giữ nhiều tư liệu tại Ninh Bình. Nếu có nhiều tư liệu sẽ giúp nghiên cứu về môi trường khí hậu toàn cầu thời kỳ biển tiến biển lùi mà UNESCO đang ưu tiên xây dựng hồ sơ về thiên nhiên, nhất là thiên nhiên biển.
- Về đa dạng sinh học, cần nghiên cứu sâu, có số liệu cụ thể. Chú ý xu hướng của UNESCO là khoanh vùng bảo vệ rộng đối với việc đăng ký theo tiêu chí này. Việc đăng ký khu vực bảo vệ rộng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng kinh tế gắn với khu vực Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An.


Các nhà nghiên cứu đề nghị mở rộng cả Tam Cốc, Bích Động.


c) Di sản hỗn hợp (mix): cần xác định cái gì là trụ cột: Di tích Cố đô Hoa Lư hay di sản thiên nhiên. Điều này còn liên quan đến tên của Hồ sơ mà một cuộc hội thảo không thể giải quyết được.


6. Một số kiến nghị


a) Giá trị các mặt của Cố đô Hoa Lư còn ở dạng tiềm ẩn, chưa đủ cơ sở khoa học với các công trình nghiên cứu sâu, với những cứ liệu được xác định có tính thuyết phục cao về giá trị toàn nổi bật toàn cầu.


Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu kỹ những ý kiến của Hội thảo để đầu tư cho công tác nghiên cứu. Ý kiến chung của các nhà khoa học là nên phát huy vẻ đẹp thiên nhiên, khai thác thế mạnh mà ở các địa phương khác không có được để phát triển làm kinh tế du lịch; nên dịch chuyển phát triển kinh tế công nghiệp đến khu vực khác.


Cần tổ chức những cuộc họp chuyên gia để tư vấn cho tỉnh về hướng xây dựng hồ sơ. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng lưu ý không nên nóng vội vì việc này đòi hỏi thời gian, chuyên gia, kể cả kinh phí không nhỏ.


b) Đề nghị tỉnh tập trung tổ chức thực hiện “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 82/2003/QĐ - TTg ngày 24-4-2003. Trong Quy hoạch này, ngoài các di tích, Quyết định cũng đã nêu đối tượng bảo tồn cả núi đá, hang động, sông, rừng, hệ thống động vật trên núi, dưới nước, văn hoá dân gian, nghề thủ công truyền thống.


Trong Hội thảo này, các nhà khoa học cũng kiến nghị bảo vệ núi đá vôi được coi là “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Xác định ranh giới cụ thể trên bản đồ. Cần tiết kiệm nguồn tài nguyên có thể tái tạo và bảo vệ tốt nhất các tài nguyên không thể tái tạo (Di sản văn hoá).


c) Trước mặt đề nghị UBND tỉnh phối hợp với Cục Di sản văn hoá xây dựng Hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét xếp hạng Di tích Cố đô Hoa Lư là Di tích quốc gia đặc biệt.


d) Đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu việc xây dựng đền vua Lý Thái Tổ tại Hoa Lư.

Bài đăng tại hoidisan.vn

Nghiên Cứu Giá trị Di sản Văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An

PGS.TS. Đỗ Văn Trụ
Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng thư ký
Hội Di sản Văn hóa Việt Nam

Kính thưa quý vị đại biểu!

Với tiêu đề “Giá trị Di sản Văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”, hôm nay, tại thành phố Ninh Bình, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Hội Di sản Văn hoá Việt Nam tổ chức Hội thảo Khoa học nhằm xác định giá trị lịch sử, văn hoá của Cố đô Hoa Lư và những giá trị địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học và môi trường sinh thái của Khu Du lịch sinh thái Tràng An; đối chiếu với 10 tiêu chí của UNESCO về Di sản Thế giới, làm cơ sở cho việc đề nghị xây dựng Hồ sơ Khoa học đệ trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới.


Kính thưa quý vị đại biểu!

Nghiên cứu 20 bài tham luận gửi tới Hội thảo, Ban Tổ chức vui mừng nhận thấy, tuy số lượng bài viết không nhiều, song có thể khẳng định rằng đó là những bài viết tâm huyết, có chất lượng, am hiểu sâu về những vấn đề mà cuộc Hội thảo của chúng ta mong muốn. Từ những ý kiến phong phú, đa dạng của các bài tham luận, Ban Tổ chức xin tóm lược một số nội dung chính như sau:


Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước, với hơn 800 di tích các loại đã được kiểm kê, trong đó có 78 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 99 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, phản ánh sự phong phú về tiềm năng văn hoá của vùng đất lịch sử này, mà nổi bật nhất phải kể đến Di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư.


Cố đô Hoa Lư là di tích lịch sử - văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia. Kinh đô Hoa Lư tồn tại 42 năm với 6 vị vua của 3 triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý, bắt đầu từ năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân “đại định thiên hạ”, giang sơn thu về một mối, lên ngôi Hoàng đế lập nên Triều đại nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, cho đến năm 1010, khi Lý Công Uẩn hạ chiếu dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Kinh đô Hoa Lư vừa là nơi diễn ra, vừa là nơi chứng kiến những biến cố trọng đại của đất nước, là thành trì quân sự, trung tâm văn hoá lớn, nơi tạo thế và lực cho dân tộc ta phát triển rực rỡ trong các thời kỳ tiếp theo. Kinh đô Hoa Lư được xây dựng dựa trên địa thế hiểm trở, tận dụng điều kiện tự nhiên với các vách núi đá vôi và hệ thống sông ngòi làm thành quách, tạo thế phòng ngự vững chắc, phù hợp với bối cảnh lịch sử của buổi đầu lập nước. Hơn 1000 năm trôi qua, với sự tàn phá của thiên nhiên, sự biến thiên của lịch sử và sự tác động của con người, nhiều di tích đến nay không còn nữa, song, trên mảnh đất này vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích của Cố đô Hoa Lư xưa trải rộng trên diện tích hơn 300 ha thuộc các làng Yên Thượng, Yên Thành và Chi Phong, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ngày nay. Cùng với những di tích trên mặt đất, gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật dưới tầng đất giữa hai đền vua Đinh, vua Lê vốn là nền cung điện cách đây gần 1.000 năm nhiều hiện vật quý giá, minh chứng cho những công trình kiến trúc của Cố đô Hoa Lư và trình độ phát triển về kiến trúc, nghệ thuật, kinh tế, văn hoá xã hội của dân tộc ta thời bấy giờ. Các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra nhiều hiện vật ở thế kỷ thứ X nằm trong lòng đất và tư liệu hiện vật quý giá thời kỳ sau thế kỷ X như các văn bia, câu đối, đại tự và các di vật ở trong đình, đền, chùa, phủ… Đây là những di vật vô giá phản ánh lịch sử, truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta.


Khu Du lịch sinh thái Tràng An nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình, với diện tích 2168 ha trên địa bàn 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và thành phố Ninh Bình. Khu Du lịch sinh thái Tràng An được coi là “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Những dải đá vôi với hang động, thung lũng, sông ngòi hoà quyện vào nhau tạo nên một không gian cực kỳ huyền ảo, trữ tình, kỳ vĩ, ẩn chứa những giá trị tài nguyên du lịch nhân văn to lớn. Tràng An còn được nâng tầm bởi xung quanh nó có nhiều dấu ấn lịch sử với biết bao giá trị mà đất và người nơi đây đã tạo ra. Đó là hệ thống những hang động tự nhiên khá đa dạng về hình thái và chủng loại, mỗi hang đều có một sắc thái riêng biệt, do hiện tượng hoà tan và lắng đọng đá vôi tạo nên nhiều thạch nhũ muôn màu muôn vẻ. Hang động ở khu vực này có đặc điểm là tập trung thành từng cụm, quan hệ mật thiết với nhau. Nhiều hang động chứa đựng trong lòng nó các di tích khảo cổ thời tiền sử, là nơi có nhiều chứng tích về lịch sử hình thành và phát triển của con người cũng như lịch sử của biến động khí hậu toàn cầu, của sự diễn thế môi trường khu vực như: nhiều di vật, dấu tích của người tiền sử cách đây từ 5.000 đến 30.000 năm ở hang Bói, hang Trống, di chỉ khảo cổ học núi đá hang Chợ, núi đá ông Hay và hang núi Thung Bình.v.v.


Nhiều tham luận đã khẳng định rằng: Tràng An là một bảo tàng địa chất ngoài trời. Sự đa dạng về địa chất, địa mạo và hệ thống hang động là kết quả của quá trình hoạt động địa chất trên diện rộng kéo dài hàng trăm triệu năm. Từ biển cả đã biến thành núi non hùng vĩ, từ các núi đá vôi nguyên vẹn đã trở thành hơn 500 hang động lớn nhỏ thuộc nhiều thế hệ khác nhau có tuổi từ 32 triệu năm đến 6.000 năm dưới tác động của sự thay đổi mực nước biển toàn cầu và chuyển động thăng trầm của vỏ trái đất.


Các tham luận cũng nêu rõ giá trị đa dạng sinh học của Khu Du lịch sinh thái Tràng An. Xuất phát từ vị trí địa lý, đất đai và địa mạo, vừa có các dãy núi đá vôi với vách dốc đứng, xen lẫn là các trũng ngập nước thường xuyên hay theo mùa, mặt khác, lại là nơi có nhiều hang động, tạo ra nhiều tiểu vùng có vi khí hậu khác nhau, các hệ sinh thái của Tràng An hết sức đa dạng và mang những nét đặc trưng riêng. Đây là khu vực vừa có hệ sinh thái trên cạn vừa có hệ sinh thái dưới nước. Hệ sinh thái trên cạn hấp dẫn không chỉ về cảnh đẹp mà còn là nơi lưu giữ khoảng 600 loài thực vật, 200 loài động vật trong đó nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ, cùng với sự hiện diện của hàng chục loài mới và đặc hữu. Hệ sinh thái dưới nước ở đây chứa rất nhiều loài sinh vật lạ và quý hiếm, bao gồm khoảng 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy đặc biệt là rùa cổ sọc được coi là động vật quý hiếm cần được bảo vệ…


Giá trị cảnh quan, sinh thái và môi trường của Khu Du lịch sinh thái Tràng An được nhiều tham luận khẳng định. Khối đá vôi Tràng An không chỉ độc đáo, lý thú về lịch sử hình thành và phát triển, mà còn đặc sắc, kỳ vĩ ở hình thù địa mạo. Khu vực Tràng An, Tam Cốc - Bích Động đã tạo thành 2 dạng hệ sinh thái chính là hệ sinh thái trên núi đá vôi và hệ sinh thái thuỷ vực. Sự đa dạng sinh vật của các quần xã là một yếu tố chủ yếu cấu thành 2 hệ sinh thái này. Môi trường thiên nhiên đa dạng và hài hoà giữa sinh vật, núi rừng, hang động, thuỷ vực toát lên cảnh sắc non xanh nước biếc hoà quyện với nhau thành một vùng kỳ vĩ hiếm có trên thế giới.


Bên cạnh các giá trị về thẩm mỹ, đa dạng sinh học, địa chất, địa mạo, văn hoá - lịch sử, Khu Du lịch sinh thái Tràng An còn có các giá trị quý giá khác thể hiện sự sáng tạo, tài hoa của con người nơi đây như các nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hoá phi vật thể khác đến nay vẫn được bảo tồn và phát huy.


Khai thác các giá trị di sản văn hoá dân tộc để phát triển du lịch đã trở thành một định hướng quan trọng của Du lịch Việt Nam. Nhiều tham luận đã khẳng định rằng: Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An là nơi hội tụ nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hoá, cảnh quan và sinh thái. Đó là những tài nguyên du lịch đặc sắc trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của Ninh Bình. Một khi chúng ta biết khai thác và phát huy có hiệu quả các tiềm năng đó, Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An chắc chắn sẽ đóng góp to lớn không chỉ cho du lịch Ninh Bình mà còn cho cả vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước. Từ thực tế đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” theo Quyết định số 82/2003/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 4 năm 2003. Trong những năm qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng và đã thu được những kết quả bước đầu, song, thực tế lượng khách du lịch đến với Cố đô Hoa Lư, Khu Du lịch sinh thái Tràng An vẫn còn hạn chế. Hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản và hoạt động du lịch chưa có sự phối hợp đồng bộ. Từ tình hình thực tế đó, các tham luận đã nêu ra nhiều giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy tiềm năng du lịch của Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An trong thời gian tới.


Không chỉ người dân Ninh Bình mà nhân dân cả nước chắc chắn đều mong muốn cho Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An trong tương lai sẽ trở thành Di sản Thế giới. Nhưng, điều kiện tiên quyết là phải căn cứ vào giá trị tiêu biểu mang tính toàn cầu của di sản. Liên quan đến vấn đề lập Hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét đưa Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An vào Danh mục Di sản Thế giới, có tham luận đề cập việc xác định tên gọi cho di sản, các giá trị nổi bật toàn cầu của di sản về văn hoá và thiên nhiên, xác định các khu vực di sản để bảo đảm sự toàn vẹn, chân xác của di sản và các quy trình lập hồ sơ.v.v.

Kính thưa quý vị đại biểu!


Ban Tổ chức Hội thảo hy vọng và tin tưởng sâu sắc rằng, thông qua cuộc Hội thảo Khoa học quan trọng này và cùng với những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong nhiều năm, Hội thảo của chúng ta sẽ khẳng định rõ hơn những giá trị tiêu biểu, đa dạng của Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An, đặt ra những vấn đề cần phải tiếp tục tập trung nghiên cứu làm sáng rõ hơn trong thời gian tới, những vấn đề về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đồng thời với tinh thần khách quan khoa học, xuất phát từ giá trị đích thực của Di sản, căn cứ vào 10 tiêu chí Di sản Thế giới của UNESCO nêu lên những đề xuất, kiến nghị xung quanh vấn đề: Liệu rằng Di sản Văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An có đủ giá trị nổi bật toàn cầu để lập Hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới hay không? Nếu đề cử thì sẽ đề cử về giá trị lịch sử - văn hoá hay đề cử về giá trị địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, môi trường sinh thái; đề cử chung cho cả Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An hay tách ra đề cử Cố đô Hoa Lư riêng, Khu Du lịch sinh thái Tràng An riêng, hoặc là trước mắt nên cân nhắc lựa chọn một trong hai nội dung trên, nội dung nào có giá trị tiêu biểu và nổi bật rõ hơn, có tính khả thi hơn thì sẽ đề cử nội dung đó? Trong khi phát biểu ý kiến về vấn đề này, mong các nhà khoa học và các đại biểu nêu rõ: nếu đề nghị lập Hồ sơ ghi vào danh mục Di sản Thế giới thì Di sản sẽ phù hợp với tiêu chí nào trong 10 tiêu chí Di sản Thế giới của UNESCO.

Với tinh thần đó, Ban Tổ chức Hội thảo xin chúc Hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cám ơn quý vị đại biểu!

Bài đăng tại hoidisan.vn

23 thg 1, 2011

Tập thơ Sưởi Ấm Tình Quê (*) của Nhà giáo Đinh Chí Đạo

Tập thơ "Sưởi ấm tình quê" của nhà giáo Đinh Chí Đạo - anh Vệ quốc quân, cha của 7 người con thành đạt, tuy chỉ viết về những người thân gia đình mình, quê mình, nhưng hàm chứa rất nhiều tình cảm chung của người Việt Nam. Cái riêng đã thành phổ quát, tôi muốn nhiều người được đọc và nhớ về một nhà giáo quá cố của Làng Trung Trữ.

Bùi Đình Hiển

SƯỞI ẤM TÌNH QUÊ

Năm các anh nhân tố đầu mùa

Từ đấy nhân ra chi bộ Đảng

Các anh đã nâng cao cờ cách mạng

Hướng con em lớp lớp kế thừa

khất thuế, giảm sưu, tăng công gặt

Thắng lợi đầu mùa có các anh

Từ lớp bùn đen lên đài hạnh phúc

Cả quê hương ngời sáng niềm tin

Gia đình tôi trai gái bảy con

Tiếp bước các anh đứng dưới Đảng kỳ

Cùng dân làng kết vành hoa đỏ

Sưởi ấm tình quê nhân rộng tình người.


CHÚC THỌ CHA 70 TUỔI

Xuân Đinh Sửu – 1977

Mừng Đảng, mừng xuân chúc thọ cha

Niên cao, đức hậu,lộc tài đa

Quế lan hội tụ vui vườn thọ

Con cháu hân hoan đẹp cảnh nhà

Nội ngoại mến yêu người đức độ

Hương lân qúy trọng tính thuận hoà

Gia đình con cháu lòng thành kính

Hai chữ kang cường chúc thọ cha.

Xuân Đinh Sửu

Các con trai gái dâu rể

Các cháu nội ngoại.


NHỚ NỘI

Nội xưa vất vả nuôi thầy

Mẹ con mất sớm đêm ngày nội lo

Lo cho đàn cháu ấm no

Đến lớp đúng giờ, học tập giỏi giang

Việc nhà cửa nội lo toan

Thương đàn cháu nhỏ cơ hàn mồ côi

Nội đi xa đã lâu rồi

Lòng thầy vẫn thấy bồi hồi nhớ thương

Nội đi để lại tấm gương

Đảm đang hiền hậu tình thương chan hòa.


NÚI CHÙA QUÊ TA

Ba tòa thờ Phật cảnh tôn nghiêm

Đại thụ tán xanh toả trước thềm

Lớp lớp hàng cây chen vách đá

Boong boong chuông khánh ấm chùa chiền

Mái chùa cổ kính khu di tích

Miếu Nội hang xưa họp đảng viên

Cờ nghĩa từ đây nhân khắp chốn

Quê ta tất cả đã vùng lên.


TÌNH QUÊ

Quê ta Trung Trữ, xã Ninh Giang

Triều đại Đinh, Lê đã dựng làng

Tây giáp sông Chanh, đông Quốc lộ

Nam gần Tượng Lĩnh, bắc sông Hoàng

Khí thiêng sông núi sinh hào kiệt

Hang động đình chùa tạo cảnh quan

Qúy nhất: tình quê cha đất tổ

Hướng về gốc cũ, lúc giầu sang.


LÚC NGHÈO

Lúc nghèo ta ở với dân làng

Hùng Dũng Cường Kiên Thắm Phượng Đoan

Nhớ kỹ lời cha khi tuổi tác

Không quên ý mẹ lúc lâm sàng

Chắt chiu hạt thóc nơi đồng ruộng

Học tập bài văn dưới mái trường

Nay được lớn khôn công tác tốt

Tình quê thắm thiết qúy hơn vàng.



TÔI SỐNG

Già rồi vui với điền viên

Dưới thì ao cá, trên liền cây xanh

Uốn cây vào thế cho cành

Đây thì “huynh đệ” kia thành “lão mai”

“long thăng” bên “thác đổ” dài

Thảnh thơi ngâm vịnh non đoài cảnh tiên

Chỉ mong cuộc sống bình yên

Cháu con hạnh phúc đoàn viên một nhà

Sớm trưa điếu thuốc ấm trà

Ngắm vườn cây cảnh quả hoa trĩu cành

Trưa về dưới lán lá xanh

Ngả lưng tiếp giữa hương lành quê ta.


TÔI SỐNG

Tôi luôn lấy đức làm đầu

Thật thà ngay thẳng, chẳng cầu hư danh

Lúc nghèo áo rách mong manh

Vẫn luôn ghi giữ phúc lành mai sau

Dù ta mai có sang giầu

Làm sao quên thủa áo nâu một thời

Càng thêm thương những cuộc đời

Như ta từng có một thời đói no

Một miếng khi đói người cho

Cũng là tình nghĩa hơn kho bạc vàng

Khinh phường cạy của vênh vang

Ghét quân trọc phú khoe vàng cậy “đô”

Tự tay gây dựng cơ đồ

Dạy con theo đức Bác hồ vì dân.


ĐƯỢC MÙA

Bình minh vừa hé nụ cười

Nắng vàng trải dát đẹp tươi cánh đồng

Một màu vàng óng mênh mông

Bừng vui nét mặt nhà nông được mùa

Nhà ta cũng gắng thi đua

Cha con hôm sớm nắng mưa đâu sờn

Vụ này lúa cũng tốt hơn

Ấm no đã khá hơn nhiều năm xưa

Bõ công cày cấy sớm trưa

Mấy cơn bão tố, mấy lần mưa giông

Nhà nông vui hội xuống đồng

Lúa thơm hương mới, ấm nồng tình quê

Lúa theo mỗi bước chân về

Lúa đóng nghĩa vụ, xây quê đẹp giầu

Xóm quê thêm mới nhịp cầu

Nhà thêm tầng mới đẹp màu ấm no.


TIỄN CON ĐI CÔNG TÁC

Lần ấy đưa Phượng đến sân ga

Buổi đầu công tác chuyến đi xa

Cha thì bịn rịn giờ đưa tiễn

Con níu thời gian nước mắt nhòa

Ngồi đợi tầu đi, con bên cha

Con thì thơ trẻ, bố phong ba

Tương lai vẫy gọi con đi tới

Sức trẻ đi xây dựng cuộc đời

Tầu đã rời ga chuyển bánh rồi

Tiếng còi dồn báo phút chia phôi

Bàn tay con vẫy, cha thương lắm

Tầu chạy dần xa khuất núi đồi

Tuần sau con gửi thư ra

Anh em phấn khởi cha càng vui hơn

Khó khăn con nhé đừng sờn

Vui khỏe tiến bộ lớn khôn cha mừng.


GẶP NGƯỜI XƯA

Bỗng dưng gặp lại người xưa

Ở nơi đất khách giữa trưa nắng hồng

Xa nhau hai mốt mùa đông

Bâng khuâng ngày gặp nói không nên lời

Vẫn đôi mắt cũ người ơi

Tôi từng mong nhớ một thời yêu thương

Những mong hai đứa chung đường…

Gian nhà xưa nhứ lời thương năm nào

Thế rồi chẳng biết làm sao

Xa nhau từ đấy mà nào biết đâu

Hai mươi năm lẻ dãi dầu

Gặp nhau tóc đã đổi màu gió sương

Người đi muôn nẻo vấn vương

Đời tôi cũng lăm đoạ trường gian nan

Hình ta, già với thời gian

Lòng ta vẫn ấm muôn vàn yêu thương.


TIẾC

Còn đang giấc mộng u ơ

Gió lay tỉnh giấc nàng thơ đã vào

Bấy lâu người vẫn ước ao

Đến nay tới gặp người sao vội nằm

Ghé tai nàng mới nhủ thầm

Làm thơ khó nhất tìm vần gọt câu

Sao cho lời đẹp ý sâu

Nói xong nàng vội gật đầu vội đi

Tiếc mình chưa tỉnh cơn mê

Để nàng chợt đến chợt đi tiếc hoài.


ĐƯỜNG VỀ LÀNG

Đường làng nay rộng rãi thênh thang

Xe cơ giới ngày đêm qua lại

Hai chiều tránh nhau không sợ hãi

Những khó khăn thủa ấy qua rồi

Đường “30” hàng cây thoáng mát

Đường xóm đông, xóm bắc phong quang

Con đê sông Chanh cao sừng sững

Đẹp mắt thay những tuyến đường làng

Cờ chiến thắng mang lại niềm vui

“Bàn tay ta làm nên tất cả”

Con đường xưa “sống trâu” hẹp nhỏ

Đã biến đi theo với thời gian.


THẦY VUI

Keo ốm vừa qua đến với thầy

Tưởng như tính mệnh đã xa bay

Trước ơn thầy thuốc tận tình chữa

Công sức các con chăm sóc thầy.

Thầy còn tồn tại đến hôm nay

Về với quê hương hội thọ này

Người có già đi vì tuổi tác

Tâm hồn vui với cảnh hôm nay.

Nội ngoại anh em đến với thầy

Thầy vui con cháu cũng vui lây

Trời xuân ấm áp hoa xuân thắm

Thắm nhất tình quê đến với thầy.


TRÊN ĐẤT THỦ ĐÔ

Mấy tháng trời trên đất Thủ đô

Mơ ước được đi đây đi đó

Thăm lăng Bác, thăm Hồ Hoàn kiếm

Ôn lại thời niên thiếu xa xưa

Xưa Hà Nội “ba sáu phố phường”

Nhà ngói bát úp, đường bàn cờ

Nay Hà Nội nhà tầng cao vút

Điện sao sa sáng cả ngày đêm

Dẫu bệnh tật xóa nhoà mộng ước

Không bi quan, con bệnh lui rồi

Nằm điều dưỡng vui cùng con cháu

Niềm lạc quan liều thuốc trường sinh.


ĐI CHỢ XUÂN

Tết về thong thả đi thăm chợ

Cá thịt rau dưa thịt trắng ngần

Hàng vạn người mua trăm người bán

Chủ hàng chào khách tựa quen thân

Lời nói ngọt ngào khúc hát xuân

Mặt hàng từng loại, gọn từng ngăn

Tiền nào vải ấy không sai sót

Trật tự công bằng thỏa ý dân

Đời đang đổi mới đẹp muôn phần

Khổ sướng xưa nay dễ mấy phân

Nghèo đói đang lùi về dĩ vãng

Nhớ người dìu dắt bước canh tân.


TẾT NHỚ MẸ ƠN CHA

Nhớ mãi một thời lúc tuổi thơ

Xuân này lại nhớ đến xuân xưa

Riêng con canh cánh bao xuân trước

Ơn mẹ nâng niu mãi tận giờ

Sữa chảy thành dòng khúc nhạc thơ

Nhưng rồi vắng mẹ thật không ngờ

Chúng con từ đấy cô đơn chịu

Đời đang ấm cúng gặp bơ vơ

Thế yếu cũng đành phải bước thôi

Bước đi chập chững một con người

Trong lòng chế độ con còn Bố

Bố dạy tu thân những lẽ đời

Gà trống nuôi con chẳng ngại ngần

Mẹ đi khi bố hãy còn xuân

Chăm lo đàn trẻ mau khôn lớn

Tất cả vì con, sống kiệm cần.

Bóng ngựa thời gian biến đổi nhanh

Mẹ ơi xuân đến đẹp như tranh

Bồi hồi mang lại bao xao xuyến

Nhờ bố chúng con đã trưởng thành.


NGHE LỜI THẦY

Trải qua năm tháng đói nghèo

Bát cơm độn sắn, nhà xiêu, áo sờn

Những mong con chóng lớn khôn

Làm thêm của cải sớm hôm ấm lòng.

Hạt gạo bữa bữa đi đong

Đồng lương Nhà giáo nuôi chung tám người.

Mộng giầu thầy ước đến rồi

Cảnh nhà khấm khá gấp mười năm xưa.

Khá rồi càng phải thji đua

Làm ra của cải đã thừa… thừa thêm

Nhìn chung đất nước đi lên

Nhìn xa con thấy trẻ em bụi đời

Nghe lời thầy các con ơi

Bớt tiêu xa xỉ, giúp người sa cơ.


NHỚ QUÊ

Quê hương nguồn gốc tự ông bà

Những muốn về thăm lại ngại xa

Gặp bạn cùng đi đường đỡ tẻ

Tình quê thắm nở đẹp như hoa

Bước đến nhà nào cũng đón đưa

Vui mừng chào hỏi cả sớm trưa

Hai chữ quê hương sao nhớ quá

Họ hàng làng xóm bạn bè xưa.

Xa quê là mấy khoảng ba năm

Như lạ như quen cả chỗ nằm

Lạ lối ra vào, cơm mấy bữa

Màn tuyn cháu mắc, chú sang thăm

Là người nghĩ kĩ cũng hay hay

Lúc nhớ xa quê tính tháng ngày

Về lại nhớ nơi từng ở đậu

Xa thương gần nhớ lạ lùng thay!


TỰ VỊNH

Nhân giống ươm cây gặt tới mùa

Bảy con thành đạt sướng mình chưa

Qua cơn sóng gió trời trong sáng

Gặp hội thanh bình cảnh khác xưa

Biết nắm thời cơ giành thắng lợi

Làm nên sợ nghiệp biết thi đua

Công thành danh toại nhớ ơn Đảng

Nhà bẩy đảng viên trí dũng thừa.


THƠ TÔI

Yêu thơ tha thiết học làm thơ

Từ tuổi mười ba đến mãi giờ

Thơ bạn tôi xem đọc mải miết

Thơ tôi bạn đọc thấy thờ ơ

Thơ như sóng biển sao ôm mộng

Gió mới rung cây vội phất cờ

Xem lại thơ mình tôi tự nhủ

Học rồi học nữa học ra thơ.


NHẮN AI

Có con đom đóm tối vào nhà

Ta nhắn đôi lời mi giúp ta

Bà nó anh linh cùng hưởng lộc

Chồng con mừng đón hội thăng hoa

Chịu đời goá bụa thời son trẻ

Nhận cảnh cô đơn lúc tuổi già

Đảm nhận chức năng người nội trợ

Các con thấu rõ nỗi lòng cha.


RĂNG

Sinh ra ở trên đời

Qúy nhất người chung thủy

Hàm răng là như thế

Nẩy mầm lớn dần lên

Siêng năng lại chuyên cần

Thường xuyên bên cạnh lưỡi

Ăn ở có trên dưới

Luôn cộng khổ đồng cam

Lúc làm việc cùng làm

Cơm ngon cùng canh ngọt

Khi đau cùng thương xót

Sống với ta trọn đời

Lúc làm, lúc nghỉ ngơi

Ngọt bùi cùng chia sẻ

Lo sao chúng mạnh khỏe

Nhờ bác sĩ chuyên khoa

Chỉ cho cách phòng xa

Sau bữa ăn đánh chải

Xin ai đừng có ngại

Thường xuyên giữ vệ sinh

Như chăm sóc người tình

Quên mình cùng sống thác.


MỘNG GIÀU

Thao thức quanh năm giấc mộng giầu

Bạc vàng còn ở mãi đâu đâu

Thần linh, Thổ địa báo điềm tốt

Bồ tát Quan âm gọi đến hầu

Trai bốn, gái ba con có trước

Vàng cân, bạc nén của về sau

Jhuyên răn con cháu theo đường chính

Chí thú làm ăn ắt chóng giầu.


HẾT NỢ

Hết rồi những buổi ăn vay

Qua cơn bĩ cực đến ngày thái lai

Gạo tiền nay chẳng nợ ai

Cũng không còn cảnh sắn khoai bốn mùa

Bao phen có sáng quên trưa

Củi ghi sổ nợ, gạo mua trả dần

Mừng nay đã hết nợ nần

Cảm ơn bè bạn xa gần thương nhau.


CHỌN NGHỀ

Khuyên con phấn đấu chọn nghề riêng

Bách nghệ không bằng một nghệ chuyên

Nghề thợ tài năng cần kĩ xảo

Nghề văn học vấn phải thâm uyên

Thầy lang chữa bệnh nên vì đức

Thầy diáo dạy dân chẳng vị tiền

Góp sức xây đời nghề chính đáng

Tránh nghề thầy bói nói quàng xiên.


CẢNH NHÀ TA

Mồ côi mẹ lúc lên ba

Tủi thân con út cả nhà đều thương

Mẹ con dừng bước giữa đường

Mình cha gánh cả tình thương thay người

Bẩy con đang tuổi ăn chơi

Nhà nghèo mẹ mất cuộc đời xót xa

Sớm trưa mưa nắng xông pha

Ruộng đồng khoai sắn cùng cha tảo tần

Thiếu ăn vay đã bao lần

Nhường cơm cha nhịn để phần cho con

Tảo tần một dạ sắt son

Sớm hôm dạy dỗ mong con nên người

Con ngoan cha cũng vui cười

Mừng cho con đã thành người lớn khôn

Nhà ta nay đã khác xưa

Mái bằng, vườn quả đung đưa trĩu cành

Các con nay đã trưởng thành

Gia đình đoàn tụ phúc lành nhà ta.


DẶN CON

Xây nên xã hội dù hay

Vẫn còn rác rưởi đầu này cuối kia

Bán dâm, bài bạc, xì ke

Thiếu gì họ “Tú” rủ rê vào tròng

Bằng lời đường mật bướm ong

Một khi cổ đã lọt tròng mới hay

Khuyên con - con nhớ điều này

Chính cha đã thấy từ ngày còn xuân

“Bạc bài là bác thằng bần

Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm”

Đời nay còn cái tệ hơn

Si đa ma tuý chập chờn khắp nơi

Dặn con – con hãy nhớ lời

Luôn luôn cảnh giác cho đời bình yên.


VỀ HƯU

Về hưu tuổi ngoại năm mươi

Vườn quê một mảnh vui đời bình yên

Chân từng đi khắp trăm miền

Quê hương hẹn buổi đoàn viên ấm lành

Vườn xưa uốn những cây xanh

Mỗi cây một dáng lá cành vấn vương

Khắp vườn ấm áp mùi hương

Mỗi cây một vẻ bốn phương hợp thành

Mùa thu trời đất trong xanh

Vàng ươm chậu cúc chạnh lòng nhớ ai

Bạn già cho một cành mai

Bắc Nam gần lại đường dài đỡ xa

Bốn mùa bung sắc mở xòa

Ơi màu tứ qúy miền xa hoá gần

Lòng như trẻ lại mùa xuân

Ngàn cây khoe sắc, vạn mầm hồi sinh

Vần thơ làm bạn bên mình

Thêm nhiều tri kỉ ấm tình quê hương.


MUỐN SỐNG THÊM

Tuổi tác như tôi muốn sống thêm

Sống thêm xem xã hội đi lên

Xem ngoài thôn xóm thêm giầu đẹp

Mừng chốn gia đình được ấm êm

Tính trẻ qua đi thời tráng kiện

Tính già hồi lại độ cao niên

Tuổi cao đức tốt lòng thanh thản

Con cháu thảo thiền muốn sống thêm.


HAI ÔNG CHÁU

Đứng ngoài xem mấy trẻ lao xao

Đứa vỗ tay reo đứa ngã nhào

Thằng cháu của ông thì thích thú

Lớp này chẳng đứa nào bằng tao.

Văn điểm cao, toán điểm cao

Cháu được điểm 10 ông phải khao

ông ơi cháu thích quá

Cháu ơi ai bảo cháu xưng tao.

Cháu được điểm 10 ông sướng không

Phố này mấy cụ sướng như ông

Ừ thì ông sướng. Nghe ông bảo

Đừng vội khoe khoang chớ nói ngông.

Cháu biết nghe ông cháu mới ngoan

Đã chăm học giỏi lại chăm làm

Học rồi, hoạc nữa cho thêm giỏi

Luôn được điểm 10 ông sướng ran.


NHỚ CÁC ANH

Kính tặng các hương hồn liệt sĩ nhân ngày 27 – 7

Hôm nay tưởng nhớ đến các anh

Những người con trung dũng thành đồng

Những người đã quên mình cho cuộc sống

Cho tương lai cho giấc mộng em thơ

Cho hôm nay Nam - Bắc rợp hoa cờ

Nâng Tổ quốc lên tầm cao rạng rỡ

Hỡi các chị các anh không bao giờ trở lại

Nhưng hồn các anh vẫn còn sống mãi

Trong vần thơ và trang sách mai sau

Trên mỗi nẻo đường màu xanh đất nước

Trong mỗi tấm lòng đang vững bước đi lên

Các anh ơi hãy yên lòng an nghỉ

Chúng tôi đây đang bước tiếp đường đi

Quê hương ta đang đổi mới diệu kì

Vẫn nhớ tới những người con yêu qúy

Xin thắp nén hương cho hồn liệt sĩ

Các anh nằm yên nghỉ giữa tình quê!


NHẮC CON

Gĩư vững gia phong cốt cách nhà

Nhắc con nhớ kĩ những lời cha

Trai lo trọn vẹn điều trung hiếu

Gái giữ thuỷ chung nết thuận hòa

Việc nước nêu cao lòng ái quốc

Việc nhà nhân rộng đức tề gia

Tấm gương nhân nghĩa ông cha để

Tổ triệu tôn bồi đẹp cảnh ta.


LÀ NAM

Là đấng “tu mi” biết tự cường

Biết yêu học vấn, biết nhu cương

Biết xa cờ bạc phường du đãng

Biết tránh rượu chè kẻ bất lương

Là đấng “tu mi” được kính trọng

Là trai hư đốn bị coi thường

Khuyên con tự biết đường kính trọng

Tu dưỡng bản thân chọn một đường.


LÀ NỮ

Là nữ các con nhớ kĩ đây

Mẹ đi “dối” lại những lời này

Siêng làm, chăm học, tính cần mẫn

Đói sạch, rách thơm, dạ thẳng ngay

Vốn liếng làm ăn nên mực thước

Tiêu xài tính toán chớ vung tay

Vào đời qúy nhất lòng chung thủy

Lười biếng “trai lơ” đáng giận thay.


KHÂU ÁO CHO CON

Kiên ơi quần áo rách đâu

Đưa đây thầy tạm vá khâu lại nào

Gửi trong đường chỉ ước ao

Mong con học giỏi sớm vào cấp Ba

Vụng về đường chỉ của cha

Sao bằng tay mẹ ở nhà năm xưa

Con ơi gắng học sớm trưa

Nhịp cầu kiến thức đưa con vào đời

Như chim tung cánh giữa trời

Cho lòng cha được thảnh thơi tuổi già

Gửi vào đường chỉ tình cha

Lớn khôn con nhé cả nhà đều mong.


TÀ ÁO CHA

Kính tặng cha

Lần từng đường chỉ cha khâu

Trên tà áo đã bạc màu thời gian

Bỗng thương bỗng nhớ vô vàn

Một khoảng đời với dáng người đưa kim

Lần theo mũi chỉ con tìm

Tình thương cha dệt trăm nghìn mũi khâu

Thương cha năm tháng dãi dầu

Khôn nguôi tình mẹ thủa đầu nuôi con

Mẹ đi cha vẫn vẹn tròn

Thắt lưng một dạ nuôi con nên người

Mừng cha nay tuổi Bẩy mươi

Lớn khôn càng nhớ công người vá khâu

Áo giờ dẫu đủ sắc màu

Lòng con vẫn ấm tình sâu của thầy.

10 -1996


TUỔI SÁU MƯƠI

Sáu mươi tuổi đến với ta rồi

Con cháu về thăm rộn tiếng cười

Nhà cũ nâng cao nền móng mới

Vườn xưa nhân rộng thắm hoa tươi

Bờ trên nhãn mít thêm sai qủa

Ao dưới trắm mè thỏa sức ngoi

Con cháu thảo hiền lòng trẻ lại

Sáu mươi tròn trĩnh ngỡ năm mươi.


CHÁU VỀ

Nỗi mừng biết mấy chi cân

Cháu về tới cổng qua sân vào nhà

Ngắm nhìn mãi mới nhận ra

Ông dang tay đón cháu xòa ôm ông

Đã lâu nay được bế bồng

Ông thơm vuốt mãi má hồng cháu yêu

Cháu đòi ông vót cánh diều

Hân hoan cháu thả ấm chiều quê hương

Hoàng Hoa Huy Thắng yêu thương

Cháu vui ông cũng như dường trẻ ra

Hải Phòng nào có đâu xa

Cháu về ông ngỡ vườn hoa xuân về.


TẤM HÌNH

Từ ngày bà bỏ đi xa

Xóm làng thì nhớ, cả nhà thì thương

Xót xa, gánh đứt giữa đường

Từ nay vắng bóng, âm dương cách rời

Hình người vẫn đấy người ơi

Sao không nói lấy nửa lời yêu thương

Mình tôi gánh nốt đoạn đường

Nuôi con nay đã lớn khôn trưởng thành

Mặc người mối lái mong manh

Thương con nghĩa vợ chẳng đành sang ngang

Bà ơi! Thương phận nhỡ nhàng

Khi nghèo thì gánh, khi sang chẳng còn

Hồn thiêng chứng giám lòng son

Tình tôi giờ vẫn vẹn tròn như xưa

Bà ơi nhớ lúc sớm trưa

Trở trời trái gió nắng mưa tuổi già

Biết rằng con cháu thương cha

Nhưng sao bằng được tay bà chăm ông

Bà ơi nghĩa vợ tình chồng

Ảnh hình vẫn đấy mà không thấy người.


GIẾT HỔ

Mậu Thân năm ấy hổ về làng

Hổ dữ ác hơn cả sói lang

Đảng uỷ họp bàn ra chỉ thị

Dân quân giết hổ cứu dân làng

Giết hổ cứu dân lời Đảng gọi

Dân quân làng nổ súng bao vây

Con mảnh hổ khoang vàng chết cứng

Dân quân làng thêm một chiến công

Cuộc giao tranh giữa hổ và người

Có tổn thất, được bình yên làng xóm

Sức mạnh hợp quần lòng dũng cảm

Quê hương ta giết hổ khao làng.


TRỞ LẠI PHƯƠNG LÂM

Chiều xưa, tôi đến Phương Lâm

Ba giờ đã tối lâm thâm mưa phùn

Rừng cây gặp rét đang run

Đường mòn cỏ rậm ngập bùn bàn chân

Ngày nay lại đến Phương Lâm

Quanh năm là một mùa xuân tưng bừng

Nhà cao lấn chỗ cây rừng

Sao sa toả chiếu đón mừng gần xa

Hoa hô thuỷ điện Sông Đà

Phương Lâm đổi thịt thay da đẹp dần

Điện về sáng đẹp vô ngần

Phương Lâm từ đấy hàn bần vượt qua

Biến dòng nước lũ sông Đà

Thành hồ nuôi cá tưới ra ruộng đồng

Khắp nơi biển lúa mênh mông

Nguồn hàng công nghiệp cây trồng đều tăng

Phương Lâm thay đổi mặt bằng

Công trình mọc khắp dây giăng ngang trời

Phương Lâm nay đã đổi đời

Về thăm nhớ mãi tình người phương Lâm.


GIỖ ÔNG BỐ VỢ

Mồng chín tháng chín giỗ ông

Đạo con dâng cả tấm lòng nhớ ơn

Phúc nhà trai gái bảy con

Hôm nay giỗ ngoại dâng hương một mình

Nén hương chén nước lòng thành

Kính mong cha thấu nỗi tình cháu con

Cũng vì công việc nước non

Các cháu công tác viễn phương chưa về

Kính mong bác cậu cô dì

Thư cho các cháu chưa về giỗ ông

Việc nhà việc nướn hanh thông

Đến ngày trùng cửu giỗ ông đàng hoàng.


QUA TRƯỜNG

Vườn giống tương lai sáng sủa rồi

Qua trường được ngắm những hoa tươi

Hoa Lan toán giỏi xếp hạng nhất

Hoa Quế văn hay được điểm mười

Trường mới khang trang thầy phấn khởi

Học hành tiến bộ lớp đông vui

Nhân nhiều trò giỏi nơi trường sở

Xoá hết trò hư kẻ bụi đời.


MÁI TRƯỜNG THỜI CHIẾN

Thời chiến lớp học trường làng

Dẫy ghế hàng nước, cái bàn chõng tre

Ngày nắng lớp học đầu hè

Ngày mưa lớp học lại bê vào đình

Học trò chơi đáo chơi đinh

Lúc ở sân đình lúc dưới gốc đa

Mỗi khi tiếng kẻng vọng ra

Thầy trò tụt xuống hầm “A” sau đình

Hết thời khói lửa chiến tranh

Lớp học trường mình từng bước khang trang

‘Nếu không có cảnh hoang tàn

Làm chi có cảnh huy hoàng mùa xuân”

Từ mái chảy đến nhà tầng

Thời bình cả bốn mùa xuân mái trường.


XEM BIA TƯỞNG NIỆM

Xem bia tưởng niệm đầu làng

Lòng tôi cảm thấy bàng hoàng đau thương

Bàng hoàng vì bãi chiến trường

Tây càn gây cảnh đau thương cho đời

Hận thù giặc Pháp không nguôi

Đốt nhà cướp của giết người quê tôi

Một thời khói lửa qua rồi

Hận thù ngày ấy khó nguôi không nhòa

Khu làng kháng chiến quê ta

Đặt bia tưởng niệm thiết tha ân tình

Vì dân vì nước hi sinh

Tấm gương liệt sĩ quang vinh muôn đời.

  • Trận Tây càn vào làng La Mai ngày 3/2/1948,
  • Cháy 200 nóc nhà, 24 người chết(5 du kích, 1 bộ đội,3 cán bộ, 6 dân quân, 9 dân thường)


NHỚ ANH

Kính viếng hương hồn anh Đinh Văn Dư

Anh dẫu đi xa thế giới này

Đinh gia tộc phả có anh đây

Đàn em dòng tộc noi gương sáng

Lớp cháu gia đình nối chí hay

Tốt nghiệp thành chung học vấn giỏi

Quân hàm Đại tá chiến công dày

Trọn đời chiến đấu dưới cờ Đảng

Sống đẹp như anh vinh dự thay.

(*) Bài do bác Bùi Đình Hiển giới thiệu và gửi trực tiếp tới Ban biên tập. Trân trọng cảm ơn bác và xin được một phút lắng lòng tưởng nhớ và Tri Ân Tình Thương - Tài Sản Vô Giá để lại đời của Nhà giáo Đinh Chí Đạo.