21 thg 1, 2011

VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO VĂN HỌC TRUNG ĐẠI NINH BÌNH

BÙI NGỌC MINH
Thạc sĩ Văn Chương

Giáo viên trường chuyên Lương Văn Tụy- Ninh Bình

1.Văn học trung đại Ninh Bình là một bộ phận không thể tách rời tổng thể văn hoá, văn học vùng Sơn Nam Hạ thuộc văn hóa, văn học trung đại Việt Nam. Đến thể kỉ thứ X (968), khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thu non sông về một mối, với lối ứng sử mềm dẻo (trong xưng đế, ngoài xưng vương), trước một nước Trung Hoa phong kiến chuyên chế láng giềng lớn hơn nhiều lần, từng đô hộ nước ta hàng ngàn năm, ông đã lên ngôi hoàng đế với tên gọi Đại Thắng Minh Hoàng Đế và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Lần đầu tiên nước ta thời trung đại có một triều đại phong kiến trung ương tập quyền độc lập tự chủ, đúng như đôi câu đối tại đền vua Đinh được một nho thần thời Nguyễn cung tiến (Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo- Hoa Lư đô thị Hán Tràng An- Vũ Phạm Khải), cũng là lúc văn học trung đại nước ta thời độc lập tự chủ bắt đầu đâm hoa kết trái. Để có được những thành tựu ấy, văn học trung đại Ninh Bình thời Đinh, Tiền Lê và những năm đầu thời Lý (cũng gần như là đại diện chủ đạo, tiêu biểu cho văn học trung đại dân tộc), ông cha ta trong suốt thời kì một ngàn năm Bắc thuộc, đã không ngừng phấn đấu, học tập, phát huy những gì vốn có và tiếp thu có chọn lọc những đặc sắc tinh hoa văn học văn hoá của các nền văn hoá, văn học ngoại bang trong cuộc tiếp xúc văn hoá do hoàn cảnh lịch sử bất như ý muốn đem lại, để đến khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế thì văn học trung đại đã từng bước đạt tới mức điển phạm. Sau khi Lý Thái Tổ dời đô về thành Đại La, Hoa Lư trở thành cố đô thì văn học trung đại Ninh Bình không còn giữ vị trí chủ đạo, tiêu biểu cho văn học trung đại dân tộc, nhưng vẫn tiếp tục phát triển cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc. Nó vừa mang những nét riêng của thiên nhiên, cuộc sống và con người của vùng đất đầu tiên khai sinh ra triều đại phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử dân tộc, lại vừa mang những nét chung văn học văn học bác học thời phong kiến và văn học Việt Nam (gắn liền với vận mệnh đất nước, dân tộc, nhân dân) và đi hết sinh mệnh của nó khi thời trung đại kết thúc.

2. Nằm trong quĩ đạo văn học trung đại, văn học Ninh Bình trong ba triều đại phong kiến độc lập tự chủ đầu tiên Đinh, Tiền Lê, Lý, chịu sự chi phối của các triết lý tư tưởng trong các học thuyết tôn giáo hay đã được tôn giáo hoá là Nho giáo, Phật giáo, Lão Trang và các triết lý trong tín ngưỡng dân gian bản địa mang sắc thái Đông Nam Á . Các học thuyết Nho, Phật, Lão - Trang khi từ Trung Quốc và Ấn Độ vào nước ta đã được tiếp thu theo tinh thần khoan dung, tiếp biến văn hoá và theo những nhu cầu của thực tiễn đời sống tâm linh, tâm hồn dân tộc. Tư tưởng Phật giáo nổi trội trong văn học của ba triều đại này. Quan niệm văn học (có nguồn gốc thiêng liêng cao quý và dùng để chở đạo, giáo hối, giáo hoá con người...), quan niệm thẩm mĩ (cái đẹp thiên về những nhu cầu tinh thần hướng thượng, ít nhiều mang màu sắc khổ hạnh, coi thường những nhu cầu vật chất...), hệ thống thi pháp ( sùng cổ, ước lệ tượng trưng, không coi trọng tả thực...) và hệ thống thể loại văn học (thơ văn phú lục, có sự phân biệt sang hèn, quý tiện về thể loại...) đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ngay từ khi có văn học viết, ông cha ta đã lấy chữ Hán làm văn tự. Điều này cho thấy bản lĩnh của ông cha ta: lấy ngay thứ vũ khí tinh thần của kẻ thù xâm lược để chống lại chúng. Đến thế kỉ XIII mới xuất hiện văn học bằng chữ Nôm, nhưng tập thơ Nôm cổ nhất còn lại đến nay lại là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV.

3. Văn học trung đại Ninh Bình được quan niệm là những tác phẩm của các tác giả là người Ninh Bình hoặc viết ở Ninh Bình, hoặc có liên quan đến những vấn đề từng gắn với địa danh Ninh Bình thời trung đại (ở đây chưa có điều kiện và khả năng viết về văn học viết thời trung đại của đồng bào Mường vì tình hình tư liệu, văn bản cho đến nay vẫn còn là một khoảng trống, cũng là một khiếm khuyết không nhỏ của chúng ta). Địa danh Ninh Bình thời Đinh và Tiền Lê là châu Đại Hoàng (vùng Gia Viễn, một phần huyện Hoa Lư, Nho Quan và một phần huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình ngày nay), thời Lí là phủ Trường Yên (chủ yếu là vùng đất phía nam tỉnh Ninh Bình, phía tây bắc gồm Nho Quan, Gia Viễn vẫn thuộc châu Đại Hoàng), thời Trần thuộc lộ Trường Yên (gồm 4 huyện Lê Gia, Uy Viễn, Yên Ninh, Mô Độ (Yên Mô), thời Hồ đổi thành trấn Thiên Quan, thời Lê gồm hai phủ Trường Yên (gồm 3 huyện Gia Viễn, Yên Ninh, Yên Mô) và Thiên Quan (gồm 3 huyện Phụng Hóa, Ninh Hóa, Lạc Thổ), Nhà Mạc vào năm 1527 tách hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của Thừa tuyên Sơn Nam làm Thanh Hoa ngoại trấn, nhưng vẫn thuộc trấn Sơn Nam, đến thời Lê Trung hưng (1513 – 1560), hai phủ Trường Yên, Thiên Quan được nhập về trấn Thanh Hoa, thời Tây Sơn, hai phủ này lại thuộc về Thanh Hoa ngoại trấn như trước đó, dưới thời Nguyễn Ninh Bình (Thanh Hoa ngoại) thuộc Bắc thành ngoại trấn (11 trấn), năm Gia Long thứ 5(1806) Thanh Hoa ngoại trấn đổi thành đạo Thanh Bình, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi thành đạo Ninh Bình.Tác giả của văn học trung đại Ninh Bình thời kì đầu là vua, quan lại, tướng lĩnh, nhà tu hành Phật giáo, từ thế kỉ XV trở về sau, chủ yếu là nhà nho. Ngay từ đầu, văn học trung đại Ninh Bình đã gắn liền với vận mệnh của đất nước, dân tộc và nhân dân. Những sự kiện lịch sử về việc Đinh Bộ Lĩnh (924- - 979) dẹp loạn mười hai sứ quân, xưng đế, xây dựng nhà nước phong kiến tập đầu tiên, Lê Hoàn (941 - 1006) thay nhà Đinh lên ngôi vua, bình Chiêm, phạt Tống, Lý Công Uẩn (974 - 1208) thay thế nhà Tiền Lê, thiên đô ra thành Đại La, chiến thắng giặc Tống... và nói chung là các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước có liên quan đến thiên nhiên, đất nước con người của mảnh đất Ninh Bình và cả những sự kiện đời thường đời tư của nhiều hạng người trong xã hội đã được ghi lại tương đối đầy đủ và chân xác trong các bộ sử chính thống của các sử gia phong kiến như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đời Trần (nay đã thất truyền), Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên đời Hậu Lê, các bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn và các bộ sử ghi chép với tư cách cá nhân, trong các tác phẩm kinh, kệ, từ, thơ, phú, văn xuôi chữ Hán, văn sách đình đối, các cuốn dư địa chí về Hưng Hoá của Phạm Thận Duật, về Ninh Bình của Nguyễn Tử Mẫn, bốn mươi cột kinh phật của Đinh Liễn, Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận (915 - 990) (1), Vương lang qui từ của Ngô Chân Lưu (2), Thiền uyển tập anh ngữ lục ( khuyết danh), các sắc phong, các thần tích, ngọc phả, các câu đối, hoành phi, đại tự trong các đình chùa miếu mạo, gia phả của những dòng họ, các văn bia, các bài thơ khắc trên núi đá qua các triều đại... hiện vẫn chưa được tập hợp một cách thật đầy đủ và dịch thuật, khảo cứu một cách thật công phu và nghiêm túc trên tinh thần của khoa văn bản học. Điều này cần có công sức, nhiệt tâm của các học giả và nhiều thế hệ người Ninh bình tâm huyết với vốn văn hoá văn học quê hương trong một thời gian dài.Tất cả khối lượng khá phong phú văn bản của hệ thống các thể loại văn học trung đại đã làm nên diện mạo riêng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Ninh Bình, làm phong phú và giàu có thêm đời sống văn hoá văn học dân tộc.

4. Hai nguồn cảm hứng lớn làm nên những giá trị đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam là cảm hứng yêu nước và nhân đạo, cũng là hai nguồn cảm hứng chủ đạo của văn học trung đại Ninh Bình. Hai nguồn cảm hứng này có những biểu hiện phong phú, đa dạng, và mang dấu ấn của từng thời kì lịch sử và bản sắc riêng của từng tác giả. Trong văn học trung đại, yêu nước gắn liền với tư tưởng trung quân. Nổi bật trong khoảng bốn mươi năm đầu tiên của nhà nước phong kiến dưới ba triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý là sự khẳng định dân tộc quốc gia, độc lập tự chủ trước nhà nước phong kiến phương Bắc, bằng một phương châm mềm dẻo có nguyên tắc. Quốc hiệu Đại Cồ Việt và danh xưng Đại Thắng Minh Hoàng Đế của Đinh Bộ Lĩnh đã thể hiện rõ điều đó. Điều thú vị và độc đáo còn ở chỗ: Phật giáo, một triết thuyết tôn giáo có nguồn gốc ngoại nhập, với tinh thần cơ bản là diệt dục, (trừ dục ngộ đạo), lánh đời để truy cầu cuộc sống tinh thần ở cõi Niết Bàn, khi vào Việt Nam, nó đã được tiếp nhận trên tinh thần khoan dung. Sự kiện sau là minh chứng sinh động cho nhận định này: Khi được ông vua khởi nghiệp nhà Tiền Lê hỏi về kế sách trị quốc an dân, Quốc sư Đỗ Pháp Thuận đã đáp bằng một bài kệ có tên là Quốc tộ:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lí thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh.

Dịch nghĩa:

Vận nước như dây mây, dây sắn (leo quấn quýt trong rừng rậm).
Trời Nam mở nền thái bình
Dùng phép “vô vi” ở nơi điện các
Mọi chốn đều dứt hết đao binh

Vị Quốc sư muốn tấu trình lên nhà vua rằng: muốn cho vận nước dài lâu, trời Nam có thái bình, đức vua cần phải vô vi không phải theo tinh thần triết lý của Đạo giáo mà phải làm sao cho đức sáng của bậc đế vương thấm nhuần tới muôn dân, khiến cho trong thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu ̣(Nguyễn Trãi). Đó chính là cái gốc của nền thái bình. Ông cha ta còn dùng văn chương để nâng cao quốc thể. Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu (933 - 1011) khi được giao tiếp sứ giả nhà Tống là Lý Giác (Nguyễn Giác), bằng kiến văn thâm hậu quảng bác và lối ứng xử mềm mỏng có nguyên tắc, ông đã khiến sứ giả Bắc triều phải tâm phục, khẩu phục; khi về nước Lý Giác có làm bài thơ tặng ông, trong đó có câu: Ngoài Trời lại có Trời, tức có ý cho rằng vua ta cũng là thiên tử ngang hàng với vua nước họ chứ không phải là phiên thuộc, như quan niệm đại Hán thâm căn cố đế của Trung Quốc...Trong nội trị, ông cha ta đã gấp rút xây dựng hình chương điển pháp, quan chế ngay từ triều Đinh. Đến thời Trần bộ Hình luật và Hoàng triềuđại điển đã ra đời, mà một trong những người khởi thảo là Trương Hán Siêu(?-1354) (3), một danh nho người Ninh Bình được các vua Trần đặc biệt kính trọng, khi ông mất vua cho nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương tiếc, lại cho tòng tự ở Văn miếu cùng với Khổng Tử, Á thánh Mạnh Tử, tứ phối và bảy mươi hai học trò yêu của người được tôn vinh là bậc thầy của muôn đời (Vạn thế sưbiểu). Từ đời Lý đến đời Trần và các triều đại kế tiếp, việc học hành thi cử được chú trọng. Đây là yêu cầu tối quan trọng và cần thiết để đào tạo tuyển chọn nhân tài cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đến thời Nguyễn, Vũ Phạm Khải (1807-1872) (4) là người được giao biên tập bộ quốc sử (Đại Nam thực lục) bởi ông là một bồ chữ như lời nhận xét của chính vua Tự Đức. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với bản tính cương trực của nhà nho, với khí chất của một người Ninh Bình, một kẻ sỹ Bắc Hà, Vũ Phạm Khải đã luận về nhiều vấn đề thời cuộc liên quan đến vận mệnh đất nước ( Bàn luận về sự mê lầm, Bàn luận về hoà với rợ Nhung, Bàn luận về Lỗ Trọng Liên…), hiện Xin đem ngọn bút ra làm kiếm-Góp sức ca chung khúc khải hoàn gửi bạn là Vũ Nhự, có thể coi là tuyên ngôn của một nho thần trung quân ái quốc và những trí thức yêu nước ở thời khổ nhục nhưng vĩ đại( Phạm Văn Đồng) Phạm Thận Duật (1825-1885) (5) khi làm quan ở Hưng Hoá ( vùng Tây Bắc ngày nay), đã viết dư địa chí về vùng đất này (Hưng hoá kí lục). Những tấu sớ của ông về việc trị thuỷ vùng đồng bằng hạ lưu sông Hồng, việc binh bị, nhật kí khi đi sứ nhà Thanh, tổng kiểm duyệt quốc sử, tâm sự riêng tư… (Hà đê tấu tập, Quan thành tấu hợp, Kiến phúc nguyên niên như Thanh nhật trình, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quan thành văn tập) thể hiện trách nhiệm, tấm lòng của một nho thần, một viên quan đầy trách nhiệm với dân với nước. Bằng kiến văn quảng bác uyên thâm và tâm huyết của một kẻ sĩ Bắc Hà, Vũ Duy Thanh (1807-1859)(6) đã làm bài văn sách đình đối luận bàn về kế sách an dân trị quốc, đặc biệt là vấn đề tuyển chọn và sử dụng nhân tài cho đất nước, (một vấn đề không chỉ có ý nghĩ vô cùng quan trọng ở thời Nguyễn), được chính vua Tự Đức lấy đỗ bảng nhãn. Cử nhân Nguyễn Tử Mẫn (1816-1901) (7) sau một vài năm làm tri huyện Hiệp Hoà Bắc Giang, đã treo ấn từ quan về quê dạy học, làm thơ. Đó là lối ứng xử lánh đục về trong của một nhà nho chân chính khi thời cuộc nhiễu nhương. Ông còn viết cuốn dư địa chí về quê hương Ninh Bình có tên: Ninh Bình địa chí khảo biên... Thiên nhiên non nước Ninh Bình đã được các văn nhân thi sĩ nổi tiêng nhiều thời, trong đó có nhiều bậc đại gia đại bút đề vịnh và gửi gắn tâm sự, (thơ về vùng Tam Điệp và về Dục Thúy Sơn của nhiều tác giả như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm...). Các anh hùng có công với dân với nước được ghi lại danh tính, công lao sự nghiệp trong văn bia, các hoành phi, câu đối hiện còn lại trong các đền chùa, miếu mạo trên quê hương Ninh Bình hôm nay... Đó chính là những biểu hiện cụ thể, sinh động, đa dạng và phong phú của cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Ninh Bình. ông còn khoảng 40 tác phẩm luận). Ông nhiều lần dâng sớ can gián vua không nên hàng giặc Tây. Câu thơ:

5. Nếu cảm hứng nhân đạo là sự quan tâm, đồng cảm, xót thương cho những kiếp người đau khổ bất hạnh, là tiếng nói phê phán lên án tố cáo những thế lực hắc ám chà đạp, tước đoạt quyền sống của con người, thì cảm hứng nhân văn chính là tiếng nói nâng niu trân trọng, ngợi ca tôn vinh những phẩm giá người cao đẹp. Chúng không đồng nhất, nhưng thống nhất với nhau. Đồng thời cảm hứng nhân đạo và nhân văn cũng không mâu thuẫn mà thống nhất với cảm hứng yêu nước. Sự quan tâm đến đời sống của bách tính muôn dân thể hiện rõ nét trong nhiều tác phẩm ( Quốc tộ, Thiên đô chiếu...). Bốn mươi cột kinh Phật do Đinh Liễn (?-979) (8) dựng sau khi giết chết Hạng Lang thể hiện sự ân hận, sám hối của Đinh Liễn trước một tội ác không thể dung thứ theo quan điểm nhân tính, nhân đạo, nhân bản và nhân văn. Trong nhiều cuốn sử cả chính thống lẫn cá nhân, những hành vi trái đạo, vô đạo của một số quân vương các triều đại bị các sử gia phong kiến phê phán một cách nghiêm khắc trên tinh thần của một ngự sử chân chính.Tiếng nói nhân văn cất lên đồng vọng với tinh thần thời đại trong thơ Ninh Tốn (1743-?) (9) khi ông ca ngợi tài sắc của một tài nữ:

Xạ văn hàn mặc thuộc nga mi,
Triển chuyển linh nhân bán tín nghi.
Nghệ phố bất đa phong nhã khách,
Tao đàn an đắc phấn châu ty?
(Kí tài nữ Thuỵ Liên)

Dịch nghĩa:

Chợt nghe những áng thơ văn hay,
Khiến người nghe phải trăn trở nửa tin, nửa ngờ.
Vườn văn chương vốn không nhiều khách tao nhã
Chốn Tao Đàn làm sao có được dáng phấn son?

Tinh thần lánh đục về trong, phê phán nhân tình thế thái thể hiện trong cách hành sử và văn thơ của nhiều tác giả trong những khoảng thời gian khác nhau, từ Trương Hán Siêu cho đến Phạm Văn Nghị, Nguyễn Tử Mẫn ( Từ cách xa đời tục- mới hay điều thị phi- Ngũ Hồ trời đất rộng- Bến cũ khi nào về - Dục Thuý sơn- Trương Hán Siêu). Có một thời chưa xa lắm, đời sống văn học ta dường như vắng bóng những tác phẩm viết về những tình cảm nhân bản đời thường trong đời sống muôn mặt. Điều này có những lý do chủ quan và khách quan của nó. Trong văn học trung đại Ninh Bình lại không hiếm những tác phẩm (thơ, văn tế, câu đối...) viết chân thành và xúc động và tài hoa về tình cảm cha mẹ vợ con, tình bạn, tình nghĩa thầy trò... Có thể thấy rõ trong tác phẩm của Vũ Phạm Khải, Phạm Thận Duật, Phạm Văn Nghị, Vũ Duy Thanh… Đôi câu đối viếng cử nhân Nguyễn Tử Mẫn của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, Đốc học Ninh Bình thể hiện sự thương tiếc, tôn vinh, ngưỡng vọng một khí tiết, một nhân cách thanh cao giữa thời buổi dép mũ lộn nhau (Khổng Tử):

Lâm ngoạ hữu dư thanh, tửu tận nhàn hoa do mãn kính.
Ngã lai tư nhất kiến, đan thành tiên hạc hốt lăng không

Dịch nghĩa:

Cụ nằm ẩn trong rừng có khí tiết thanh cao, uống cạn chén rượu mà vườn vẫn còn đầy hoa cúc.
Tôi đến đây, mới gặp cụ một lần, bài thuốc tiên luyện xong, bỗng cụ cỡi hạc bay đi mất.

Sự tri ân với ông bà tổ tiên, ý thức giấy rách phải giữ lấy lề, truy tìm về cội nguồn là nét nổi bật trong các cuốn gia phả của nhiều dòng họ lớn, trong các câu đối hoành phi đại tự treo nơi từ đường các dòng họ, bàn thờ gia tiên các gia đình giữ được gia phong gia đạo ở tỉnh Ninh Bình. Đáng tiếc thay một thời chưa xa lắm, chúng ta đã ứng xử không đúng để các tác phẩm mang tính gia bảo, của tin còn một chút này bị mai một. Chim có tổ, sông có nguồn, cây có gốc, con người có tổ tông họ hàng, gia đình, tổ quốc. Đó là những giá trị thiêng liêng mà chúng ta cần phải gìn giữ cho hôm nay và cho muôn đời sau. Cố nhiên chúng ta phải kế thừa có chọn lọc trên tinh thần của lối sống, và cách tư duy hiện đại, để tránh rơi vào cách ứng xử của nhà nho, của lối tư duy tiểu nông đã tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta.

6. Văn học trung đại Ninh Bình là một thành tố hết sức quan trọng của văn hoá Ninh Bình. Các thế hệ tác gia, tác giả thời trung đại coi văn học là một hành vi văn hoá trong tổng thể nhân cách văn hoá của nhân vật văn hoá nhà Nho. Đây chỉ là những nhận xét bước đầu để những người Ninh Bình ở mọi nơi và những người quan tâm đến văn học văn hoá lưu tâm, chú ý tiếp tục tìm hiểu.

______________________________________________

CHÚ THÍCH:


(1): Đỗ Pháp Thuận (915 – 990) Thiền sư họ Đỗ, pháp danh là Pháp Thuận, không rõ quê quán là nhà sư thuộc thế hệ thứ mười dòng thiền Nam phương do thiền sư người Tây Trúc Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi đến nước ta năm 580 lập ra. Ông từng giữ công việc cố vấn quan trọng dưới triều Tiền Lê. Tác phẩm của ông hiện còn bài kệ trả lời Lê Đại Hành hỏi về vận nước.

(2): Đại Sư Khuông Việt (933-1011) trước tên là Ngô Chân Lưu, người Cát Lợi, thuộc dòng Ngô Thuận Đế. Ngài tướng mạo khôi ngô, tính tình phóng khoáng, nhỏ theo Nho học, lớn lên quy y Phật, thọ giới Cụ túc. Năm 40 tuổi danh Ngài vang tới triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng mời đến.Ngài đối đáp hiệp chỉ, bèn phong làm Tăng Thống. Năm Thái Bình thứ hai (917), Vua ban hiệu Không Việt Đại Sư. Hoàng đế Đại Hành càng kính trọng, phàm việc quân, việc nước ở triều đình, Ngài đều dự vào. Năm Thiên Phúc thứ nhất (968), binh Tống đến quấy nước ta. Vua biết rõ việc đó, liền sai Ngài đến bàn thờ cầu đảo. Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh, lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ. Năm Thiên Phúc thứ bảy (986), người Tống là Lí Giác sang sứ nước ta. Bấy giờ Pháp sư tiếng tăm đã lừng lẫy. Vua sai Ngài cải trang làm người lái đò để nghênh đón Giác ở Giang khúc. Giác thấy Ngài giỏi bàn văn chương, bèn đen thơ tặng, có câu: Ngoài trời lại có trời soi rạng. Vua đưa hỏi Ngài. Ngài thưa: “Đây nó muốn tôn kính Bệ Hạ cùng với chúa nó không khác”. Khi Giác trở về, Ngài làm một bài từ nhan đề Vương Lang qui để tiễn đưa (Phiên âm Hán- Việt: Tường quang, phong hảo, cẩm phàm trương-Giao vọng thần tiên phục đế hương-Vạn trùng sơn thủy thiệp thương lãng-Cửu thiên qui lộ trường-Tình thảm thiết-Đối li trường-Phan luyến sứ tinh lang-Nguyện tương thâm ý vị biên cương Phân minh tấu ngã hoàng. Dịch nghĩa: Nắng tươi gió thuận cánh buồm giương-Thần tiên lại đế hương-Vượt sóng xanh muôn vạn trùng dương-Về trời xa đường trường-Tình thảm thiết-Chén lên đường-Vin xe sứ vấn vương-Xin đem thâm ý vì Nam cương-Tâu vua tôi tỏ tường. Sau Ngài lấy cớ già yếu, xin từ về núi Tu Hí ở quận mình, lập chùa trụ trì, người học tìm tới đông đảo. Ngày 15 tháng hai năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) triều Lí, khi sắp cáo tịch, Ngài dạy Đa Bảo bằng bài kệ sau: Trong cây vốn có lửa- Có lửa, lửa mới bừng-Nếu bảo cây không có lửa-Cọ xát do đâu bừng. Truyền kệ xong, Ngài ngồi kiết già mà mất, thọ 82 tuổi (có sách nói thọ 79 tuổi, theo Thiền uyển tập anh ngữ lục).

(3): Trương Hán Siêu (?- 1354), tự Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên, nay thuộc phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình. Thời trẻ làm môn khách của Trần Hưng Đạo, lập được nhiều công trạng trong hai lần chống Nguyên-Mông, được Hưng Đạo Vương tiến cử lên triều đình. Năm 1308 thời Trần Anh Tông, được bổ chức Hàn lâm học sĩ, sau được thăng chức Hành khiển. Năm 1339 giữ chức Môn hạ hữu tư lang trung. Năm Thiệu Phong thứ nhất đời Trần Dụ Tông (1341) theo lệnh vua, ông cùng Nguyễn Trung Ngạn soạn hai bộ Hình thưHoàng triều đại điển, xây dựng các căn cứ pháp chế cho việc cai trị. Năm 1342 bị giáng làm Tả tư lang trung kiêm Kinh lược sứ Lạng Giang. Năm 1345 thăng Tả gián nghị đại phu. Năm 1351 thăng Tham tri chính sự. Năm 1353 được giao cầm quân đánh dẹp phía nam và trấn thủ Hóa Châu (vùng Huế ngày nay). Năm 1354 xin trở về triều, được chuẩn y, chưa về thì mất. Được truy phong Thái Bảo. Tuy không đỗ đạt cao, nhưng ông là một học giả uyên thâm, có tư tưởng tôn Nho bài Phật, đề cao ý thức quốc gia, được các vua Trần tôn quí như bậc thầy. Khi ông mất vua bãi triều 3 ngày để tỏ lòng thương tiếc. Cùng với Chu An, ông được tòng tự tại Văn Miếu cùng các tiên hiền của đạo Nho. Tác phẩm viết bằng chữ Hán còn lại: Bạch Đằng giang phú, Cúc hoa bách vịnh (thơ 7 bài còn 4)Dục Thúy sơn, Hóa Châu tác,Quá Tống đô (thơ), Khai Nghiêm tự bi kí, Dục Thúy Sơn Linh Tế tháp kí (bi minh kí).

(4): Vũ Phạm Khải (1807 -1872), tự là Đông Dương, người thôn Phượng Trì (nay là Yên Mạc, Yên Mô), đỗ cử nhân năm 1831, làm quan trải ba triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, với các chức vụ: Tri huyện, Ngự sử, Lang trung bộ Hình, Tham biện nội các, Toản tu Quốc sử quán, Chưởng Hàn lâm viện, quyền Bố chánh Thái Nguyên. Tuy không đỗ đại khoa, nhưng ông hai lần chấm thi Hương, ba chấm thi Hội và thi Đình. Ông là một trong những tác giả lớn ở thế kỉ XIX. Tác phẩm thơ văn của ông để lại đến nay còn khá nhiều về số lượng và phong phú về thể loại, trong đó các tác phẩm luận rất đáng chú ý về mặt học thuật. Ông nổi tiếng là người có tài văn chương, được các trí thức đương thời hâm mộ, kính nể. Hoàng giáp Phạm Văn Nghị nhận xét: Ông Đông Dương ở Phượng Trì là người bạn đáng sợ của tôi, mắt cao vượt một thời, tâm hùng hơn muôn kẻ. Những thơ văn của ông làm, ý tứ cao siêu, cổ kính, chữ dùng tươi tắn, rắn rỏi, chinh phục được lòng người… Tài khí của bạn tôi, bút lực của bạn tôi, tôi còn xa mới kịp. Ông thường được vua Thiệu Trị, Tự Đức hỏi về thơ văn. Đặc biệt ông được vua Tự Đức tin tưởng sai phúc duyệt những tác phẩm của mình. Thể luận với khoảng trên dưới 40 tác phẩm chiếm một vị trí quan trọng trong thơ văn của ông. Nội dung đề cập đến nhiều vấn đề cấp thiết về các mặt chính trị, xã hội, học thuật,… của thời đại. Tuy nhiên cho đến nay, thơ văn cũng như các trước thuật luận của ông vẫn chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức. Thơ văn, thư từ, luận… sau này được tập hợp trong Đông Dương thi văn tuyển do Nguyễn Văn Huyền tuyển chọn biên dịch.

(5): Phạm Thận Duật (1825- 1885) tự là Quan Thành, hiệu là Vọng Sơn ( tên một ngọn núi ở quê ông ) sinh ngày 4-11-1825 năm Ất Dậu triều Minh Mệnh. Quê làng Yên Mô Thượng xã Yên Mạc huyện Yên Mô trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống hiếu học, cha là Phạm Thận Tuyển mất lúc ông lên 9 tuổi mẹ là bà Nguyễn Thị Dĩnh làm ruộng và chạy chợ nuôi ông ăn học. Thuở nhỏ theo học các ông đồ làng, năm 21 tuổi theo học Hoàng giáp Phạm Văn Nghị ( người Nam Định ). Phạm Thận Duật chịu ảnh hưởng rất lớn về tri thức đặc biệt là tư tưởng yêu nước thương dân của Hoàng giáp tỉnh nam này. Năm 1850 đỗ Cử nhân, năm sau thi Hội ở Huế không đỗ. Ông được bổ làm giáo thụ Đoan Hùng, rồi thăng Tri châu Tuần Giáo. Ở Tuần Giáo ông viết cuốn Hưng Hóa kí năm 1856 với bút danh Quan Thành. Năm 1857 làm Tri huyện Quế Dương rồi thăng Tri Phủ Lạng Giang, sau đó thăng lên quan tỉnh trải các chức Bang biện, Án sát, Bố chánh, quyền Tuần phủ Bắc Ninh. Năm 1873, Pháp đánh BẮc Kì, được cử đi tiếp quản các tỉnh và cắt đặt quan chức lâm thời, sau đó giữ chức quyền Tuần phủ Hà Nội. Năm 1875 được thăng làm Tuần phủ Bắc Ninh, coi sóc hành chính Ninh-Thái, Hộ lý cho Hiệp đốc Tôn Tất Thuyết ở Thái Nguyên. 1876 được triệu về Huế thăng Tham tri bộ Lại, kiêm Phó Đô sát Ngự sử, được bốn tháng lại ra bắc giữ chức Hà đê sứ. 1878 về bộ Lại rồi sang lãnh bộ Hình. 1881 sung vào Viện cơ mật. Là thầy dạy cho hai hoàng tử là con nuôi của Tự Đức là Dục Đức và Chánh Mông, sau lại sung vào Quốc sử quán, Phó Tổng tài, kiêm Quản Quốc tử giám, Tổng kiêm duyệt và in ấn bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Trước Tết Quý Mùi 1883 được cử đưa đoàn sứ bộ sang Thiên Tân Trung Quốc để thương thuyết về việc hợp tác đánh Pháp nhưng không thành. 1884-1885 ông làm chủ khảo 2 khoa thi Hương và thi Hội. Được thăng Hiệp biện Đại học sĩ, kiêm Công bộ Tả tham tri. Ông là một trong những người đứng đầu phái chủ chiến, tôn phò vua Hàm Nghi chống Pháp và đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở Quảng Bình, xuống chiếu Cần Vương. Một số học giả nghiên cứu lịch sử cho rằng rất nhiều khả năng ông là tác giả hoặc đồng tác giả của bài chiếu lịch sử này. Ngày 29-7-1885 trong lúc chuẩn bị vượt biển ra Bắc Kì tổ chức chống Pháp, ông bị bọn tay sai của Pháp bắt. Chúng giải ông về Huế dụ dỗ mua chuộc ông từ chối và chấp nhận tù ở Côn Đảo rồi đày đi biệt sứ ở Tahiti châu Phi. Sau 6 ngày lênh đênh trên biển, bệnh tiểu đường tái phát, ông từ trần ngày 23-10 năm Ất Dậu tức 29-11-1885 ở vùng biển Gia Lạp thuộc Mã Lai. Người đồng hành đã liệm ông trong bộ quần áo trắng bỏ vào chiếc bao rồi thả xuống biển. Mấy năm sau con cháu mới biết tin ông mất đã lập một ngôi mộ giả ở quê nhà để tưởng niệm ông. Vũ Kế Xuân đã dựng một tấm bia đá nói về hành trạng của ông nhưng phải chôn sấp mặt phải bia xuống mộ để che mắt giặc Pháp và bọn chó săn chim mồi của chúng. 73 năm sau (1961) bia mới được dựng lên để mọi người tưởng niệm một văn thân yêu nước, một đại thần phái chủ chiến trong triều đình Tự Đức. Ông còn để lại một số trước tác: Quan Thành văn tập, Hưng Hóa kí lục, Hà đê tấu tập, Quan Thành tấu hợp, Kiến Phúc nguyên niên như Thanh nhật trình, ông là người biên tập bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Khi nghe tin ông mất, có người viếng ông bằng đôi câu đối:

Khẳng khái cô thần khinh vạn thủy,
Thê lương chu tử cách trùng sơn.


Nghĩa là:

Khẳng khái tấm thân trời biển nhẹ
Não nùng một lái nước non xa.

(6): Vũ Duy Thanh (1807-1859) tự Trừng Phủ, hiệu Mai Khê, Vĩ Nhân, còn nhỏ tên là Vũ Duy Tân, quê làng Kim Bồng, sau đổi là Vân Bồng, tên Nôm là làng Bồng, nay thuộc xã Khánh Hải, Yên Khánh. Con cụ Tú nho học Vũ Trọng Trình. Đỗ Tú tài năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), sau đó đỗ Cử nhân, năm Tự Đức thứ 4 (1851) đỗ Phó bảng, ngay năm đó, nhà vua mở chế khoa, bài văn sách đình đối của ông được vua Tự Đức lấy đỗ đầu với lời chiêu phê Chế khoa Bảng nhãn Cát sĩ thị trạng nguyên.(Chế khoa là khoa đặt ra không theo lệ thường bắt đầu từ đời Đường, thịnh hành ở đời Tống, mà lại thấy ở nước ta trong khoa thi Tân Hợi (1851). Dùng lệ tuyển khác thường để chon người phi thường, nếu không phải bậc bác học, có bụng dạ uyên bác, tài rộng trải khắp việc đời, thì trúng sao được để xứng với danh ấy. (Vũ Phạm Khải). Ông là người cương trực, khẳng khái có chí khí và tiết tháo, không màng danh lợi và luôn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Tác phẩm hiện còn: Trừng Phủ thi văn tập, Bồng Châu thi văn tập.

(7): Nguyễn Tử Mẫn (1816- 1901) quê xã Giá Hộ ( nay thuộc làng Thư Điền, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình). Đỗ Cử nhân 1841, làm Tri huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, một thời gian sau bỏ quan về quê dạy học. Là tác giả cuốn Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên bằng chữ Hán, hiện còn lưu giữ ở thư viện viện Hán Nôm Hà Nội. Sinh thời có sáng tác thơ văn nhưng chỉ còn lại một số bài thơ Nôm, câu đối và một số giai thoại. Bài Sáng ngủ dậy muộn: Tiếng gà bên gối tẻ tè te-Bóng ác trông ra hé hẽ hè-Núi một hòn cao chon chót vót-Hoa năm thức nở tóe tòe loe-Chim tình bầu bạn kia kìa kịa-Ân nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè-Danh lợi chẳng màng ti tí tị-Trửa trừa trưa dậy khỏe khòe khoe mà trong Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên vẫn để khuyết danh, nhưng người dân quê ông thì vẫn truyền rằng đây là sáng tác của ông. Ông mất ngày 28-5 năm Tân Sửu (1901), hưởng thọ 92 tuổi tại quê nhà.

(8): Đinh Liễn ( ?-979) tên thật là Đinh Khuông Liễn, con trưởng Đinh Tiên Hoàng, có rất nhiều công lao trong việc giúp cha hoàn thành sự nghiệp đánh dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên triều đại chính thống đầu tiên của nước ta. Sau khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng phong ông làm Nam Việt Vương. Ông từng đi sứ Trung Hoa thời Tống Thái Tổ (Nhâm Thân 972), khiến vua Tống rất cảm phục. Năm 973 (Quý Dậu) vua Tống sai sứ sang phong cho vua Đinh làm Giao Chỉ Quận Vương, Đinh Liễn làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Năm 975 (Ất Hợi) vua Tống lại gia phong cho ông làm Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu Thái Sư Giao Chỉ Quận Vương. Vua Đinh không phong ông làm thái tử mà lại phong cho em ông làm thái tử là Đinh Hạng Lang. Đầu năm 979 Đinh Liễn sai người sát hại Hạng Lang. Sau đó ân hận sám hối làm 100 tòa kinh Phật để cầu cho linh hồn em mình được siêu thoát. Về sự kiện này sử gia Ngô Sĩ Liên thời Hậu Lê trong Đại Việt sử kítoàn thư đã luận như sau “ Nối nghiệp dùng con trưởng là đạo thường muôn đời. Làm trái đạo thường ấy chưa bao giờ là không gây loạn. Cũng có khi nhân thời loạn, lập Thái tử trước hết lấy người có công, hoặc con đích trưởng quá ác thì bỏ mà lập con thứ, đó là ở lúc biến mà làm cho đúng, người đời xưa vẫn làm thế. Nam Việt Vương là con trưởng, lại có công, chưa thấy có lỗi gì. Tiên Hoàng lại yêu con nhỏ mà quên con đích, chỉ biết tỏ lòng yêu quý, mà không biết làm như thế thành hại cho con. Liễn lại nhẫn tâm giết em, thì mất hết luân thường, tai họa đến thân mình chết, lây đến cả cha, hỏi chẳng dữ dội lắm sao? Không thế thì việc đại ác của Đỗ Thích bởi đâu xảy ra mà hợp với lời sấm ngữ được (ĐVSKTT trang 157). Tháng 10 năm Kỷ Mão (979) Đinh Liễn và vua cha là Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích sát hại. Đinh Liễn làm một trăm cột kinh đến nay đã phát hiện được gần 40 cột kinh bằng đá xanh nguyên khối ở hữu ngạn sông Hoàng Long, thuộc xã Trường Yên, cách đền vua Đinh vua Lê khoảng 1300m. Một số cột còn khá nguyên vẹn, đủ các bộ phận từ đế, thân, chóp như cột kinh chùa Nhất Trụ. Các cột không đều nhau về kích thước. Tổng chiều cao 140cm. Trên 8 mặt của thân cột khắc kinh Phật bằng chữ Hán gồm 2 phần: lạc khoản, kệ và kinh Đà la ni. Tổng số chữ khoảng từ 545 đến 563, lạc khoản chiếm khoảng 1/3 số chữ. Chúng có niên đại 973 - 979. Đây là một tư liệu quý để tiếp tục nghiên cứu về lịch sử tôn giáo tín ngưỡng của thời đại Đinh,Tiền Lê.

(9): Ninh Tốn ( 1743-?) quê Côi Trì, nay thuộc xã Yên Mỹ, Yên Mô cháu gọi Hoàng giáp Ninh Địch khoa Mậu Tuất, Vĩnh Thịnh 14 (1718) đời Lê Dụ Tông làm quan đến chức Đông các học sĩ cháuđời Ninh Đạt Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi ( 1659) Vĩnh Thọ thứ 2 Lê Thần Tông. Ông 35 tuổi đỗ Hội nguyên tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 39 (1778) đời Lê Hiển Tông làm quan tới Đông Các Đại Học Sĩ. Thời Tây Sơn làm Hàn lâm trực học sĩ, năm 1790 thăng Binh bộ thượng thư tước Trường Nguyên Bá. Ông được tiến Bùi Huy Bích ( 1744-1818) đánh giá “ Mẫn Hiên cư sĩ kim tài tử- Chính phủ Thiêm sai cổ liệt khanh” ( nghĩa là Cư sĩ Mẫn Hiên là bậc tài tử đời nay, làm Thiêm sai trong Chính phủ là chức vụ cao nhất vào hàng khanh đại phu xưa ). Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút cho biết trong kỳ thi Đình Ninh Tốn chiếm đầu bảng “ quyển của Ninh Tốn về kinh văn thì am hiểu cuộc đời, văn chương tinh luyện về cổ văn thì đầy đủ. Ông mất năm nào đến nay không rõ.

____________________________________________________


Vân Giang, 10/2008 -1/2011

Không có nhận xét nào: