BÙI NGỌC MINH
Thạc sĩ Văn Chương
Giáo viên trường chuyên Lương Văn Tụy- Ninh Bình
1.Văn học trung đại Ninh Bình là một bộ phận không thể tách rời tổng thể văn hoá, văn học vùng Sơn Nam Hạ thuộc văn hóa, văn học trung đại Việt Nam. Đến thể kỉ thứ X (968), khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thu non sông về một mối, với lối ứng sử mềm dẻo (trong xưng đế, ngoài xưng vương), trước một nước Trung Hoa phong kiến chuyên chế láng giềng lớn hơn nhiều lần, từng đô hộ nước ta hàng ngàn năm, ông đã lên ngôi hoàng đế với tên gọi Đại Thắng Minh Hoàng Đế và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Lần đầu tiên nước ta thời trung đại có một triều đại phong kiến trung ương tập quyền độc lập tự chủ, đúng như đôi câu đối tại đền vua Đinh được một nho thần thời Nguyễn cung tiến (Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo- Hoa Lư đô thị Hán Tràng An- Vũ Phạm Khải), cũng là lúc văn học trung đại nước ta thời độc lập tự chủ bắt đầu đâm hoa kết trái. Để có được những thành tựu ấy, văn học trung đại Ninh Bình thời Đinh, Tiền Lê và những năm đầu thời Lý (cũng gần như là đại diện chủ đạo, tiêu biểu cho văn học trung đại dân tộc), ông cha ta trong suốt thời kì một ngàn năm Bắc thuộc, đã không ngừng phấn đấu, học tập, phát huy những gì vốn có và tiếp thu có chọn lọc những đặc sắc tinh hoa văn học văn hoá của các nền văn hoá, văn học ngoại bang trong cuộc tiếp xúc văn hoá do hoàn cảnh lịch sử bất như ý muốn đem lại, để đến khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế thì văn học trung đại đã từng bước đạt tới mức điển phạm. Sau khi Lý Thái Tổ dời đô về thành Đại La, Hoa Lư trở thành cố đô thì văn học trung đại Ninh Bình không còn giữ vị trí chủ đạo, tiêu biểu cho văn học trung đại dân tộc, nhưng vẫn tiếp tục phát triển cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc. Nó vừa mang những nét riêng của thiên nhiên, cuộc sống và con người của vùng đất đầu tiên khai sinh ra triều đại phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử dân tộc, lại vừa mang những nét chung văn học văn học bác học thời phong kiến và văn học Việt Nam (gắn liền với vận mệnh đất nước, dân tộc, nhân dân) và đi hết sinh mệnh của nó khi thời trung đại kết thúc.
2. Nằm trong quĩ đạo văn học trung đại, văn học Ninh Bình trong ba triều đại phong kiến độc lập tự chủ đầu tiên Đinh, Tiền Lê, Lý, chịu sự chi phối của các triết lý tư tưởng trong các học thuyết tôn giáo hay đã được tôn giáo hoá là Nho giáo, Phật giáo, Lão Trang và các triết lý trong tín ngưỡng dân gian bản địa mang sắc thái Đông Nam Á . Các học thuyết Nho, Phật, Lão - Trang khi từ Trung Quốc và Ấn Độ vào nước ta đã được tiếp thu theo tinh thần khoan dung, tiếp biến văn hoá và theo những nhu cầu của thực tiễn đời sống tâm linh, tâm hồn dân tộc. Tư tưởng Phật giáo nổi trội trong văn học của ba triều đại này. Quan niệm văn học (có nguồn gốc thiêng liêng cao quý và dùng để chở đạo, giáo hối, giáo hoá con người...), quan niệm thẩm mĩ (cái đẹp thiên về những nhu cầu tinh thần hướng thượng, ít nhiều mang màu sắc khổ hạnh, coi thường những nhu cầu vật chất...), hệ thống thi pháp ( sùng cổ, ước lệ tượng trưng, không coi trọng tả thực...) và hệ thống thể loại văn học (thơ văn phú lục, có sự phân biệt sang hèn, quý tiện về thể loại...) đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ngay từ khi có văn học viết, ông cha ta đã lấy chữ Hán làm văn tự. Điều này cho thấy bản lĩnh của ông cha ta: lấy ngay thứ vũ khí tinh thần của kẻ thù xâm lược để chống lại chúng. Đến thế kỉ XIII mới xuất hiện văn học bằng chữ Nôm, nhưng tập thơ Nôm cổ nhất còn lại đến nay lại là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV.
3. Văn học trung đại Ninh Bình được quan niệm là những tác phẩm của các tác giả là người Ninh Bình hoặc viết ở Ninh Bình, hoặc có liên quan đến những vấn đề từng gắn với địa danh Ninh Bình thời trung đại (ở đây chưa có điều kiện và khả năng viết về văn học viết thời trung đại của đồng bào Mường vì tình hình tư liệu, văn bản cho đến nay vẫn còn là một khoảng trống, cũng là một khiếm khuyết không nhỏ của chúng ta). Địa danh Ninh Bình thời Đinh và Tiền Lê là châu Đại Hoàng (vùng Gia Viễn, một phần huyện Hoa Lư, Nho Quan và một phần huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình ngày nay), thời Lí là phủ Trường Yên (chủ yếu là vùng đất phía nam tỉnh Ninh Bình, phía tây bắc gồm Nho Quan, Gia Viễn vẫn thuộc châu Đại Hoàng), thời Trần thuộc lộ Trường Yên (gồm 4 huyện Lê Gia, Uy Viễn, Yên Ninh, Mô Độ (Yên Mô), thời Hồ đổi thành trấn Thiên Quan, thời Lê gồm hai phủ Trường Yên (gồm 3 huyện Gia Viễn, Yên Ninh, Yên Mô) và Thiên Quan (gồm 3 huyện Phụng Hóa, Ninh Hóa, Lạc Thổ), Nhà Mạc vào năm 1527 tách hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của Thừa tuyên Sơn Nam làm Thanh Hoa ngoại trấn, nhưng vẫn thuộc trấn Sơn Nam, đến thời Lê Trung hưng (1513 – 1560), hai phủ Trường Yên, Thiên Quan được nhập về trấn Thanh Hoa, thời Tây Sơn, hai phủ này lại thuộc về Thanh Hoa ngoại trấn như trước đó, dưới thời Nguyễn Ninh Bình (Thanh Hoa ngoại) thuộc Bắc thành ngoại trấn (11 trấn), năm Gia Long thứ 5(1806) Thanh Hoa ngoại trấn đổi thành đạo Thanh Bình, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi thành đạo Ninh Bình.Tác giả của văn học trung đại Ninh Bình thời kì đầu là vua, quan lại, tướng lĩnh, nhà tu hành Phật giáo, từ thế kỉ XV trở về sau, chủ yếu là nhà nho. Ngay từ đầu, văn học trung đại Ninh Bình đã gắn liền với vận mệnh của đất nước, dân tộc và nhân dân. Những sự kiện lịch sử về việc Đinh Bộ Lĩnh (924- - 979) dẹp loạn mười hai sứ quân, xưng đế, xây dựng nhà nước phong kiến tập đầu tiên, Lê Hoàn (941 - 1006) thay nhà Đinh lên ngôi vua, bình Chiêm, phạt Tống, Lý Công Uẩn (974 - 1208) thay thế nhà Tiền Lê, thiên đô ra thành Đại La, chiến thắng giặc Tống... và nói chung là các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước có liên quan đến thiên nhiên, đất nước con người của mảnh đất Ninh Bình và cả những sự kiện đời thường đời tư của nhiều hạng người trong xã hội đã được ghi lại tương đối đầy đủ và chân xác trong các bộ sử chính thống của các sử gia phong kiến như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đời Trần (nay đã thất truyền), Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên đời Hậu Lê, các bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn và các bộ sử ghi chép với tư cách cá nhân, trong các tác phẩm kinh, kệ, từ, thơ, phú, văn xuôi chữ Hán, văn sách đình đối, các cuốn dư địa chí về Hưng Hoá của Phạm Thận Duật, về Ninh Bình của Nguyễn Tử Mẫn, bốn mươi cột kinh phật của Đinh Liễn, Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận (915 - 990) (1), Vương lang qui từ của Ngô Chân Lưu (2), Thiền uyển tập anh ngữ lục ( khuyết danh), các sắc phong, các thần tích, ngọc phả, các câu đối, hoành phi, đại tự trong các đình chùa miếu mạo, gia phả của những dòng họ, các văn bia, các bài thơ khắc trên núi đá qua các triều đại... hiện vẫn chưa được tập hợp một cách thật đầy đủ và dịch thuật, khảo cứu một cách thật công phu và nghiêm túc trên tinh thần của khoa văn bản học. Điều này cần có công sức, nhiệt tâm của các học giả và nhiều thế hệ người Ninh bình tâm huyết với vốn văn hoá văn học quê hương trong một thời gian dài.Tất cả khối lượng khá phong phú văn bản của hệ thống các thể loại văn học trung đại đã làm nên diện mạo riêng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Ninh Bình, làm phong phú và giàu có thêm đời sống văn hoá văn học dân tộc.
4. Hai nguồn cảm hứng lớn làm nên những giá trị đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam là cảm hứng yêu nước và nhân đạo, cũng là hai nguồn cảm hứng chủ đạo của văn học trung đại Ninh Bình. Hai nguồn cảm hứng này có những biểu hiện phong phú, đa dạng, và mang dấu ấn của từng thời kì lịch sử và bản sắc riêng của từng tác giả. Trong văn học trung đại, yêu nước gắn liền với tư tưởng trung quân. Nổi bật trong khoảng bốn mươi năm đầu tiên của nhà nước phong kiến dưới ba triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý là sự khẳng định dân tộc quốc gia, độc lập tự chủ trước nhà nước phong kiến phương Bắc, bằng một phương châm mềm dẻo có nguyên tắc. Quốc hiệu Đại Cồ Việt và danh xưng Đại Thắng Minh Hoàng Đế của Đinh Bộ Lĩnh đã thể hiện rõ điều đó. Điều thú vị và độc đáo còn ở chỗ: Phật giáo, một triết thuyết tôn giáo có nguồn gốc ngoại nhập, với tinh thần cơ bản là diệt dục, (trừ dục ngộ đạo), lánh đời để truy cầu cuộc sống tinh thần ở cõi Niết Bàn, khi vào Việt Nam, nó đã được tiếp nhận trên tinh thần khoan dung. Sự kiện sau là minh chứng sinh động cho nhận định này: Khi được ông vua khởi nghiệp nhà Tiền Lê hỏi về kế sách trị quốc an dân, Quốc sư Đỗ Pháp Thuận đã đáp bằng một bài kệ có tên là Quốc tộ:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lí thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh.
Dịch nghĩa:
Vận nước như dây mây, dây sắn (leo quấn quýt trong rừng rậm).
Trời Nam mở nền thái bình
Dùng phép “vô vi” ở nơi điện các
Mọi chốn đều dứt hết đao binh
Vị Quốc sư muốn tấu trình lên nhà vua rằng: muốn cho vận nước dài lâu, trời Nam có thái bình, đức vua cần phải vô vi không phải theo tinh thần triết lý của Đạo giáo mà phải làm sao cho đức sáng của bậc đế vương thấm nhuần tới muôn dân, khiến cho trong thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu ̣(Nguyễn Trãi). Đó chính là cái gốc của nền thái bình. Ông cha ta còn dùng văn chương để nâng cao quốc thể. Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu (933 - 1011) khi được giao tiếp sứ giả nhà Tống là Lý Giác (Nguyễn Giác), bằng kiến văn thâm hậu quảng bác và lối ứng xử mềm mỏng có nguyên tắc, ông đã khiến sứ giả Bắc triều phải tâm phục, khẩu phục; khi về nước Lý Giác có làm bài thơ tặng ông, trong đó có câu: Ngoài Trời lại có Trời, tức có ý cho rằng vua ta cũng là thiên tử ngang hàng với vua nước họ chứ không phải là phiên thuộc, như quan niệm đại Hán thâm căn cố đế của Trung Quốc...Trong nội trị, ông cha ta đã gấp rút xây dựng hình chương điển pháp, quan chế ngay từ triều Đinh. Đến thời Trần bộ Hình luật và Hoàng triềuđại điển đã ra đời, mà một trong những người khởi thảo là Trương Hán Siêu(?-1354) (3), một danh nho người Ninh Bình được các vua Trần đặc biệt kính trọng, khi ông mất vua cho nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương tiếc, lại cho tòng tự ở Văn miếu cùng với Khổng Tử, Á thánh Mạnh Tử, tứ phối và bảy mươi hai học trò yêu của người được tôn vinh là bậc thầy của muôn đời (Vạn thế sưbiểu). Từ đời Lý đến đời Trần và các triều đại kế tiếp, việc học hành thi cử được chú trọng. Đây là yêu cầu tối quan trọng và cần thiết để đào tạo tuyển chọn nhân tài cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đến thời Nguyễn, Vũ Phạm Khải (1807-1872) (4) là người được giao biên tập bộ quốc sử (Đại Nam thực lục) bởi ông là một bồ chữ như lời nhận xét của chính vua Tự Đức. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với bản tính cương trực của nhà nho, với khí chất của một người Ninh Bình, một kẻ sỹ Bắc Hà, Vũ Phạm Khải đã luận về nhiều vấn đề thời cuộc liên quan đến vận mệnh đất nước ( Bàn luận về sự mê lầm, Bàn luận về hoà với rợ Nhung, Bàn luận về Lỗ Trọng Liên…), hiện Xin đem ngọn bút ra làm kiếm-Góp sức ca chung khúc khải hoàn gửi bạn là Vũ Nhự, có thể coi là tuyên ngôn của một nho thần trung quân ái quốc và những trí thức yêu nước ở thời khổ nhục nhưng vĩ đại( Phạm Văn Đồng)… Phạm Thận Duật (1825-1885) (5) khi làm quan ở Hưng Hoá ( vùng Tây Bắc ngày nay), đã viết dư địa chí về vùng đất này (Hưng hoá kí lục). Những tấu sớ của ông về việc trị thuỷ vùng đồng bằng hạ lưu sông Hồng, việc binh bị, nhật kí khi đi sứ nhà Thanh, tổng kiểm duyệt quốc sử, tâm sự riêng tư… (Hà đê tấu tập, Quan thành tấu hợp, Kiến phúc nguyên niên như Thanh nhật trình, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Quan thành văn tập) thể hiện trách nhiệm, tấm lòng của một nho thần, một viên quan đầy trách nhiệm với dân với nước. Bằng kiến văn quảng bác uyên thâm và tâm huyết của một kẻ sĩ Bắc Hà, Vũ Duy Thanh (1807-1859)(6) đã làm bài văn sách đình đối luận bàn về kế sách an dân trị quốc, đặc biệt là vấn đề tuyển chọn và sử dụng nhân tài cho đất nước, (một vấn đề không chỉ có ý nghĩ vô cùng quan trọng ở thời Nguyễn), được chính vua Tự Đức lấy đỗ bảng nhãn. Cử nhân Nguyễn Tử Mẫn (1816-1901) (7) sau một vài năm làm tri huyện Hiệp Hoà Bắc Giang, đã treo ấn từ quan về quê dạy học, làm thơ. Đó là lối ứng xử lánh đục về trong của một nhà nho chân chính khi thời cuộc nhiễu nhương. Ông còn viết cuốn dư địa chí về quê hương Ninh Bình có tên: Ninh Bình địa chí khảo biên... Thiên nhiên non nước Ninh Bình đã được các văn nhân thi sĩ nổi tiêng nhiều thời, trong đó có nhiều bậc đại gia đại bút đề vịnh và gửi gắn tâm sự, (thơ về vùng Tam Điệp và về Dục Thúy Sơn của nhiều tác giả như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm...). Các anh hùng có công với dân với nước được ghi lại danh tính, công lao sự nghiệp trong văn bia, các hoành phi, câu đối hiện còn lại trong các đền chùa, miếu mạo trên quê hương Ninh Bình hôm nay... Đó chính là những biểu hiện cụ thể, sinh động, đa dạng và phong phú của cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Ninh Bình. ông còn khoảng 40 tác phẩm luận). Ông nhiều lần dâng sớ can gián vua không nên hàng giặc Tây. Câu thơ:
5. Nếu cảm hứng nhân đạo là sự quan tâm, đồng cảm, xót thương cho những kiếp người đau khổ bất hạnh, là tiếng nói phê phán lên án tố cáo những thế lực hắc ám chà đạp, tước đoạt quyền sống của con người, thì cảm hứng nhân văn chính là tiếng nói nâng niu trân trọng, ngợi ca tôn vinh những phẩm giá người cao đẹp. Chúng không đồng nhất, nhưng thống nhất với nhau. Đồng thời cảm hứng nhân đạo và nhân văn cũng không mâu thuẫn mà thống nhất với cảm hứng yêu nước. Sự quan tâm đến đời sống của bách tính muôn dân thể hiện rõ nét trong nhiều tác phẩm ( Quốc tộ, Thiên đô chiếu...). Bốn mươi cột kinh Phật do Đinh Liễn (?-979) (8) dựng sau khi giết chết Hạng Lang thể hiện sự ân hận, sám hối của Đinh Liễn trước một tội ác không thể dung thứ theo quan điểm nhân tính, nhân đạo, nhân bản và nhân văn. Trong nhiều cuốn sử cả chính thống lẫn cá nhân, những hành vi trái đạo, vô đạo của một số quân vương các triều đại bị các sử gia phong kiến phê phán một cách nghiêm khắc trên tinh thần của một ngự sử chân chính.Tiếng nói nhân văn cất lên đồng vọng với tinh thần thời đại trong thơ Ninh Tốn (1743-?) (9) khi ông ca ngợi tài sắc của một tài nữ:
Xạ văn hàn mặc thuộc nga mi,
Triển chuyển linh nhân bán tín nghi.
Nghệ phố bất đa phong nhã khách,
Tao đàn an đắc phấn châu ty?
(Kí tài nữ Thuỵ Liên)
Dịch nghĩa:
Chợt nghe những áng thơ văn hay,
Khiến người nghe phải trăn trở nửa tin, nửa ngờ.
Vườn văn chương vốn không nhiều khách tao nhã
Chốn Tao Đàn làm sao có được dáng phấn son?
Tinh thần lánh đục về trong, phê phán nhân tình thế thái thể hiện trong cách hành sử và văn thơ của nhiều tác giả trong những khoảng thời gian khác nhau, từ Trương Hán Siêu cho đến Phạm Văn Nghị, Nguyễn Tử Mẫn ( Từ cách xa đời tục- mới hay điều thị phi- Ngũ Hồ trời đất rộng- Bến cũ khi nào về - Dục Thuý sơn- Trương Hán Siêu). Có một thời chưa xa lắm, đời sống văn học ta dường như vắng bóng những tác phẩm viết về những tình cảm nhân bản đời thường trong đời sống muôn mặt. Điều này có những lý do chủ quan và khách quan của nó. Trong văn học trung đại Ninh Bình lại không hiếm những tác phẩm (thơ, văn tế, câu đối...) viết chân thành và xúc động và tài hoa về tình cảm cha mẹ vợ con, tình bạn, tình nghĩa thầy trò... Có thể thấy rõ trong tác phẩm của Vũ Phạm Khải, Phạm Thận Duật, Phạm Văn Nghị, Vũ Duy Thanh… Đôi câu đối viếng cử nhân Nguyễn Tử Mẫn của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, Đốc học Ninh Bình thể hiện sự thương tiếc, tôn vinh, ngưỡng vọng một khí tiết, một nhân cách thanh cao giữa thời buổi dép mũ lộn nhau (Khổng Tử):
Lâm ngoạ hữu dư thanh, tửu tận nhàn hoa do mãn kính.
Ngã lai tư nhất kiến, đan thành tiên hạc hốt lăng không
Dịch nghĩa:
Cụ nằm ẩn trong rừng có khí tiết thanh cao, uống cạn chén rượu mà vườn vẫn còn đầy hoa cúc.
Tôi đến đây, mới gặp cụ một lần, bài thuốc tiên luyện xong, bỗng cụ cỡi hạc bay đi mất.
Sự tri ân với ông bà tổ tiên, ý thức giấy rách phải giữ lấy lề, truy tìm về cội nguồn là nét nổi bật trong các cuốn gia phả của nhiều dòng họ lớn, trong các câu đối hoành phi đại tự treo nơi từ đường các dòng họ, bàn thờ gia tiên các gia đình giữ được gia phong gia đạo ở tỉnh Ninh Bình. Đáng tiếc thay một thời chưa xa lắm, chúng ta đã ứng xử không đúng để các tác phẩm mang tính gia bảo, của tin còn một chút này bị mai một. Chim có tổ, sông có nguồn, cây có gốc, con người có tổ tông họ hàng, gia đình, tổ quốc. Đó là những giá trị thiêng liêng mà chúng ta cần phải gìn giữ cho hôm nay và cho muôn đời sau. Cố nhiên chúng ta phải kế thừa có chọn lọc trên tinh thần của lối sống, và cách tư duy hiện đại, để tránh rơi vào cách ứng xử của nhà nho, của lối tư duy tiểu nông đã tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta.
6. Văn học trung đại Ninh Bình là một thành tố hết sức quan trọng của văn hoá Ninh Bình. Các thế hệ tác gia, tác giả thời trung đại coi văn học là một hành vi văn hoá trong tổng thể nhân cách văn hoá của nhân vật văn hoá nhà Nho. Đây chỉ là những nhận xét bước đầu để những người Ninh Bình ở mọi nơi và những người quan tâm đến văn học văn hoá lưu tâm, chú ý tiếp tục tìm hiểu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét