Trung Trữ – làng ven cố đô Hoa Lư đến nay đã trên 500 tuổi.
Để có được một cái tên làng, tổ tiên Trung Trữ phải mất 27 năm (từ 1492 đến 1519) qua 3 đợt đầu đơn, Nhà nước mới cử Nha môn về chia ruộng đất, sông núi và cho lập xã riêng biệt. Trong một nghìn mẫu ruộng chia 6 phần, làng Trung Trữ 1 phần ở nhiều xứ đồng khác nhau. Trong bát vạn sơn Trung Trữ được 2,5 quả núi. Địa giới được gói gọn trong câu phương ngôn:“chùa Bần núi Đất đường Cộc rộc Cùng”.
Trung Trữ trở thành làng ven Cố đô Hoa Lư, thuộc miền “Hạ Long cạn”. Sông giăng thành luỹ, núi mọc như thành, hang động lung linh nhũ đá, hàm ếch hằn sâu mớn nước triệu triệu năm. Cả một vùng từ Nho Quan, Xích Thổ xuôi về; từ Hương Tích, phố Cháy, chợ Đại chảy xuống; từ Bợi, Vệ ngược lên – mênh mang sông nước. Tre mọc giăng giăng thành bờ thành luỹ, dạt dào sóng vỗ, ngả nghiêng bão bão tố đời người. Xa xưa, người ta nhìn ngọn núi, gồ tre mà nhận ra làng xóm. Làng Trung Trữ được Hoàng Long Giang, sông Đáy, sông Chanh bao bọc, vòng tay ôm ấp.
Miền Hoa Lư xưa cách biển chẳng bao xa, sậy cói um tùm, sò hến thành cồn, bao la sóng vỗ, thuyền bè xuôi ngược như mắc cửi, băng băng không một lần mắc cạn. Trung Trữ như một trổ nước lớn. Nước từ miền ngược đổ về. Bèo tây, rong rêu, cây rừng, xác thú cuồn cuộn qua làng xuôi trôi ra biển. Sông nước mênh mang để lại bao nỗi thương tâm. Lẫn trong rong rêu bèo bọt ấy có cả xác người! Một chiều nọ, trời yên biển lặng bỗng ù ù gió nổi cơn giông, vòi rồng từ trời cao cắm phập xuống cuốn lên không trung chiếc thuyền chở đầy bông cúi đi chợ Hối Thiệu về. Đứng nhìn thiên nhiên gieo họa chỉ còn biết kêu “Giời”!
Sông nước mênh mang cũng cho những kỉ niệm tự hào. Một lần vào năm 1953, chiếc thuyền ván đinh tải gạo Chính phủ va vào trụ cầu bị đắm, cả làng Trung Trữ hò nhau cứu. Người quang gánh, thúng mủng, gầu chậu chuyển gạo lên sân đình hong khô. Người mang gỗ ván, bóc vỏ cây gạo vá thuyền. Ngày hôm sau thuyền chở gạo lại ra chiến trường không hề hao hụt.
Và sông nước cũng cho nhiều cảm xúc. Những đêm bàng bạc trăng soi, ánh hoa lục bình lấp loáng, dăm ba cây nêu đèn treo mờ đục, thỉnh thoảng điểm vào đêm vài ba tiếng vạc mồi chát chúa. Xa xa kia trên dòng Hoàng Long Giang một giọng hò của anh chân sào vọng vào sườn núi khuấy động mây nước sông sâu. Và một lời ru, một câu lảy Kiều, một nhịp trống phách từ khoang đò dọc thẳm vào sông núi trời mây, đọng tâm can con người.
Bọn trẻ con ở cái tuổi ăn không biết no lo chưa tới, cứ vô tư tận hưởng đồng trắng nước trong. Chiều chiều, những cô bé “tuổi hoa” tụt hết áo quần giấu vào gốc si gốc gạo, ào xuống ao hồ nô đùa thỏa thích, bơi mỏi thì lên bờ đu rễ si, đánh võng rễ đa đón những bông hoa gạo như chùm lửa từ ngọn cây rơi xuống… Ngày xưa bà Đàm Thị ra sông tắm mang thai sinh Bộ Lĩnh. Ngày nay, những bà mẹ làng Trung Trữ quanh năm dãi gió dầm sương đánh vật với sông nước sinh ra những đứa trẻ, trong những đứa trẻ ấy có hai anh hùng, một vị tướng.
Chao ôi! Sông nước mênh mang…
Trên là trời, dưới là cá. Từ đòng đong, cân cấn, thầu dầu, mài mại, rô cờ rô don đến trê, hẻn, chuối, chõn, trắm, mè, trôi, chép, rói, măng, bống, diếc, ba ba, ốc nhồi, ốc vặn, ốc biêu, ốc tre, ốc nứa, cua cái, cua rốc, cua cáy, cua rạm… Và, tép tôm nhiều hơn trấu. Tôm trứng, tôm càng, tép gạo, tép riu, tép vó, tép đơm… có nước là có cá, có nước là có cua ốc, có nước là có tôm tép.
Người đồng chiêm nghĩ ra trăm cách đánh bắt: chài, lưới, nơm, rập, riu, dậm, nhậy, lờ, vẹ, đăng, đó, vó bè, vó tay, câu dây, câu vút. Và, đặc biệt hơn cả là cái “bơ lơ”. Cá chép, cá trắm ăn chìm chui đầu vào cái “bơ lơ” chết tiệt ấy không thể trở mình quay đầu bơi ra được, đành nằm chờ người vớt lên thuyền mang ra chợ.
Người đồng chiêm đánh bắt cá theo vụ. Vào vụ nước “mồng bốn cá đi ăn thề, mòng tám cá về cá vượt ngũ môn” dưới trời mưa vần vũ, sấm ùng uoàng, chớp loang loáng, người ta ào xuống sông nước. Người nơm, người rập, người vó, người đinh ba, mình trần quần cộc, hợp thành từng tốp, từng đoàn đánh bắt. Người được ít cũng dăm ba con, người nhiều thì vô kể, mang vác không xuể thì từng xâu thả dưới ngòi rộc lôi về bến, gọi vợ khiêng về.
Những ngày trời yên biển lặng, đồng trắng nước trong, từng đoàn trẻ con, người lớn mình trần trùng trục vác dậm tràn xuống cánh đồng lưng bắp chân nước. Từng tốp một quây dậm thành hàng rồi vác bùng bục ra xa, dàn vòng cung khua ầm ầm dồn cá tôm về phía dậm. Họ xô về dậm của mình, nhanh như cắt dậm ai người ấy nhấc. Cánh đồng Chanh nằm giữa hai làng Trung Trữ – Trường Yên cứ sôi lên mỗi ngày như vậy.
Khi nắng tháng Sáu đổ lửa xuống, nước đồng khô cạn, chỉ còn những vũng nước và cây lát bát, cụm tóc tiên. Các cô bé nhà nghèo đội nón mê, đeo dỏ, liêu xiêu bước chân bì bỗm lội tìm từng con cua, con ốc trong vũng nước, gốc lát bát, tóc tiên kia. Đó đây trên những bờ ngòi, bờ rộc, mỗi quãng, mỗi quãng, một bé gái thả những vuông vó nhon bòn từng con tép. Hình bóng em in mãi vào đêm Trung Trữ đến tận bây giờ.
Tháng Bảy, tháng Tám nước rừng đổ về, đồng ruộng nước ngập đầu người. Đồng trắng nước trong, gió lặng, bèo trôi. Đó đây lẳng lặng chiếc thuyền câu bé tẻo teo của anh “câu quệt”, hay lẳng lơ thuyền vợ chồng nhà quăng chài thả lưới, hay ầm ĩ vợ chồng nhà thuyền chài gỗ lưới, gõ đăng. Và ông già râu tóc trắng như cước mà nước da hồng hào, quăng đốc sào lao thuyền về chặng vẹ, nhấc lên vài ba con chép to bự.
Hoàng hôn đổ xuống, khói lam chiều thơm lựng cá nướng, cá kho, canh cua, dấm ốc, tép rang, tôm luộc…
Nhưng, một xâu cá, một rổ tép tôm không mua nổi đấu gạo. Đói vẫn hoàn đói, rét vẫn hoàn rét!
Giữa một vùng, nước lũ lưng ngọn tre, từ đường làng vào cổng ngõ rồi từ ngõ cổng vào sân lên nhà bao nhiêu là bậc “tam cấp” – nền nhà nào cũng phải tôn cao. Các bác “thợ đấu” đảm nhiệm. Một mình một thuyền một mai. Nước qúa ngực, đào từng thép mai, chân hất tay vất đất lên thuyền. Chiếc thuyền nan đầy mép cạp, bác thợ đấu độc chiếc khố, như tượng đồng đen đẩy sào lao thuyền vào tận rộc, bắc ván lao đất lên bờ. Cứ thế, cứ thế để có cái nền nhà cao tránh lụt . Nền thì cao mà nhà thì thấp, âu là chống bão đồng chiêm thường vượt cấp 12. Người Trung Trữ sống chung với lũ lụt, bão tố.
Nhà Trung Trữ chỉ một gian hai chái, lớn hơn là 3 gian hai chái, lớn hơn nữa 5 gian vẫn thêm hai chái. Mỗi chái là một buồng. Trong buồng kiêm nhiều chức năng: kê giường ngủ, buộc mắc áo, đặt bồ thóc, hũ giống.
Gian giữa là không gian trang trọng của mỗi gia đình. Nhà khá giả lập bàn thờ đủ đại tự hoành phi câu đối. Nhà nghèo cũng có bát hương gia tiên. Trước bàn thờ xưa kê sập gụ, bộ tràng kỷ, nay là bộ xa lông.
Hiên nới rộng làm nơi kê chõng tre ăn cơm uống nước, hàng xóm sang chơi chuyện trò bù khú mỗi tối trăng lên.
Xưa, mỗi xóm chỉ dăm mười nhà có nhà ngói, sân gạch, cổng xây, còn toàn là nhà tranh vách đất.
Dựng được gian nhà ở là 1 trong 3 việc lớn đời người (tậu trâu, lấy vợ, làm nhà). Chỉ cần nghe là cả họ, cả chòm xóm, có khi cả làng “đi giúp nhà”. Gíup một, hai buổi. Chỉ bát nước chè xanh, miếng trầu, không cơm mặn, không tiền công. Nếp sống cộng đồng ấy, nhà nghèo cũng có gian nhà ở. Thương người như thể thương thân. Bao nhiêu năm qua rồi, còn nguyên hình ảnh đêm đêm ngon giấc ngủ, nhà không cần khóa, cổng không cần đóng. Nghèo mà không trộm cắp.
Mùa khô, nước rút đi phủ lớp phù sa trên đồng ruộng. Cây cỏ như được bón thúc mọc xanh bờ, xanh rãnh, xanh bãi hoang. Rau má, rau diệu, tầu bay, chòm bóp, dền gai, rau tạy, rau khúc, khoai nước, khoai ngứa, củ ấu, củ chóc, tóc tiên. Gặp năm đói kém chả kể “rau dại rau khôn” đến như cây nghể – trâu bò không đụng mõm, năm 45 cũng cứu được khối người khỏi chết đói. Các cụ bảo” “Cây dại cứu người khôn” là vậy.
Trung Trữ đất chật người đông
Ruộng đất tập trung vào một số nhà giầu. Người nghèo, ai có nghề mộc, nề đi làm thuê ăn cơm thiên hạ. Ai không nghề thì cày thuê cuốc mướn. Nhiều người rủ nhau đi gánh thuê hàng sang Ai Lao. Phụ nữ Trung Trữ, năm một vụ cấy gặt. Lúc nông nhàn quay sợi dệt vải, nuôi tằm dệt lụa. Trung Trữ bám vào bãi phù sa Hoàng Long trồng bông, trồng dâu. Nghề phụ chăn tằm dệt vải khá phát triển. Công nghệ từ A đến Z . Trồng bông, cung bông, xe cúi, kéo sợi, đánh lọn, hồ cơm, vào go, mắc cửi, dệt thành tấm. Nái Trung Trữ cũng bắt đầu từ ươm kén, chăn tằm, rút sợi, quay xa, vào go, mắc cửi, dệt thành tấm.Vải và nái Trung Trữ là sản phẩm thô, khổ hẹp. Phần lớn tự cung tự cấp. Vải vuông qua khâu nhuộm nâu để may áo quần.Vải để may váy thâm phụ nữ cũng nhuộm nâu sau đó căng ra nắng trát lên mặt vải lớp bùn ao, phơi khô, giặt kĩ và giữ mầu bằng nước lá trầu không, hoặc lá bàng. Nái là sản phẩm hiếm chỉ nhà giầu dùng may váy, may yếm, bao thắt lưng cho các bà; may áo cho các ông có chức sắc. Nhiều gia đình sống bằng nghề dệt thủ công. Con gái những gia đình này không chân lấm tay bùn, nên da trắng, má hồng, cô nào cũng xinh đẹp.
Trung Trữ xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp, làm nên kỳ tích mới: “kiến thiết đồng ruộng”. Bờ vùng, bờ thửa, kênh ngòi dọc ngang dẫn thuỷ tiêu nước, mùa mùa bội thu. Những con đường “sống trâu bổ chõi”, cứt đái lầy lội được nắn lại, đắp mới, lèn đá, trải sỏi và đến hôm nay bê tông hóa đến tận cổng ngõ mỗi nhà dân. “Điện, Đường, Trường, Trạm” thay da đổi thịt làng quê Trung Trữ.
Có một con đường, nay chỉ còn trong trí nhớ của lớp người già. Đó là “đường cái Tây Sơn”, “ngòi Tây Sơn”. Đường do dân đắp, ngòi do voi chiến Tây Sơn xông trận mà thành.
Năm 1789, Quang Trung cho quân lính ăn tết sớm. Từ Tam Điệp hành quân thần tốc ngược theo đường Thạch Thành, (Thanh Hóa) vòng xuống Phủ Đồi, Nho Quan về Sơn Hà, Sinh Dược, Quèn Ổi, dừng chân tại Cự Sơn, Phú Gia, Trung trữ, Bãi Trang. Cánh quân Tây Sơn do Đô đốc Vũ Đình Huấn chỉ huy lấy núi Trung Phong (Trung Trữ) làm đài chỉ huy. Voi chiến, bộ binh bất ngờ vượt sông Hoàng Long hạ gọn đồn tiền tiêu Gián Khẩu, thần tốc tiến về giải phóng Thăng Long.
Trong đoàn quân ấy có Đô đốc Vũ Thị Đức– con gái thứ của Vũ Đình Huấn – chỉ huy voi chiến. Bà đã hy sinh trên mình voi chiến. Người con gái Phú Xuân Bình Định tài hoa vĩnh viễn nằm lại Bãi Vải, nay thuộc xóm Phú Xuân thôn Thượng Hòa xã Gia Thanh huyện Gia Viễn Ninh Bình. Nơi đây quanh năm hương trầm nghi ngút tưởng nhớ một nữ tướng tài hoa Tây Sơn nằm lại trên đất Bắc.
Vũ Đình Huấn quê Quy Nhơn Bình Định. Sau đại thắng quân Thanh, ông ở lại Bắc Hà trấn giữ phòng tuyến Nho Quan – Gián Khẩu – Vị Xuyên. Ông Lấy vợ thứ người Trung Trữ, sinh hai con trai (Đình Văn, Đình Thư) nhưng đều tuyệt tự. Vợ thứ ba người Bãi Trữ sinh 1 con trai là Vũ Đình Cố.
Cụ Vũ Đình Huấn là thuỷ tổ họ Vũ Đình ở Ninh Bình. (Họ Vũ Đình phát triển ở hai tỉnh Bình Định và Ninh Bình nên gọi là họ Vũ Song Bình).
Đô đốc Vũ Đình Huấn được phong Hầu, 40 mẫu ruộng của ông trên đất Trung Trữ gọi là cánh đồng Hầu
Đô đốc Ân Quang Hầu Vũ Đình Huấn là danh nhân Văn hóa Ninh Bình. Nhà thờ họ Vũ Đình thờ ông được cộng nhận là di tích Lịch sử -Văn hóa. Ca ngợi công đức đô đốc Vũ Đình Huấn, đến thăm nhà thờ họVũ Đình, Tam Đăng Hoàng giáp Phạm Văn Nghị có câu đối :
Đô đốc danh thơm tràn Đất Bắc
Quy Nhơn lừng lẫy khắp phương Nam.
Và, hình ảnh đoàn quân Tây Sơn còn lưu mãi với “Đường cái Tây Sơn” , “Ngòi Tây Sơn” trên mảnh đấtảTung Trữ anh hùng.
Tiếp nối truyền thống “đường cái Tây Sơn”, năm 1960 kỉ niệm 30 năm đời ta có Đảng, Trung Trữ đắp “đường 30”- Con đường mở đầu thời kì Hợp tác hóa nông nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội. Con đường của những đoàn quân, đoàn xe ra tiền tuyến chi viện Miền Nam đánh cho Mĩ cút, ngụy nhào. Con đường của lòng dân Trung Trữ tin yêu Đảng đổi mới xây dựng quê hương giầu đẹp.
Lịch sử làng Trung Trữ“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.“Bằng có công với nước” còn ghi lại bao gương anh hùng kiệt xuất.
Đó là phong trào đấu tranh “đòi tăng công gặt” và cuộc biểu tình chống thuế ngày 29 tháng 6 năm 1931, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ trung Trữ – một trong ba chi bộ đảng Cộng sản được thành lập đầu tiên ở Ninh Bình. Trong cuộc đấu tranh ấy, địch đã bắt của Trung Trẽư 21 người và chúng đã mở phiên tòa bỏ tù 11 người. Trong đó 6 người chúng đưa đi giam tại nhà tù Hỏa Lò. Trên đường đi, tù Cộng sản Đinh Thạnh lót tay lính áp giải, được về thăm vợ 1 giờ đồng hồ. Sau 9 tháng 10 ngày cụ có được cậu con trai một Đinh Đức Thịnh. Ông Thịnh đi bộ đội là Đại tá. Năm 2010 này Đại tá Thịnh 77 tuổi. Tại Bảo tàng Hỏa Lò Hà Nội còn sáng mãi những dòng tên của 6 người con Trung Trữ.
Đó là ngay từ ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Trung Trữ đã mở công binh xưởng đúc lựu đạn, chế vũ khí tự trang bị cho du kích thôn chống càn thắng lợi.
Đó là 5 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 2 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 13 Lão thành cách mạng. 124 Liệt sĩ. 159 Thương binh. 523 Bộ đội (gia đình bà Truyện cả 6 con trai đều tòng quân).
Ông gạo vàng Đinh Trọng Lực một lần vào hội Trường Yên đấu vật đã bơi qua cánh đồng vác về phiến đá to phẳng bắc “Cống Đá dựng”. Ông Lực khỏe, ăn nhiều đến mức phải ăn cơm gạo vàng mới no lâu.
Cụ Bùi Quốc Trinh, nhà nghèo học giỏi, đỗ đạt làm quan Án Sát, về làng mở “học xá”, cấy ruộng “học điền” nuôi thầy dạy dỗ con em trong làng. Cụ được dân làng tôn là Hương Quan thờ trong đình cùng Hương Tiên Đinh Thế Dong.
Đó là hai chú cháu người họ Bùi là Tú tài Bùi Cẩm, Cử nhân Bùi Uyển. Hai ông đều là học trò Phạm Văn Nghị tham gia phong trào Cần Vương. Mang quân vào Nam đánh Pháp, nhưng triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, các ông quay về tổ chức đánh Pháp tại Ninh Bình, Nam Định. Bùi Cẩm học giỏi, không màng công danh, ông liên kết với Chúa Mường Bi, mang quân đánh phá các nhà giầu, chia của cho dân nghèo.
Anh du kích Đinh Thế Thư mưu trí, đứng trên ngọn núi Chùa dùng loa chỉ huy bộ đội xông lên tiêu diệt Tây càn. Nghi binh thôi mà phá tan trận càn của giặc, bảo vệ làng xóm yên bình.
Gia đình ông bà Ngô Truyên, Vũ Thị Tôi có 6 người con trai đặt tên là: Truyện, Trò, No, Ny, Quy, Lục, cả 6 anh đều lần lượt tòng quân tham gia 2 cuộc kháng chiến.
Tháng 5/1972 Mặt trận B5 tổ chức hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm ở khe Do. Ngoại trừ người anh cả bị thương ngày chống Pháp đã chuyển ngành, còn lại 5 người em đều có mặt. Năm anh em gặp nhau giữa những ngày khốc liệt nhất của chiến trường Quảng Trị – như chuyện cổ tích nhuốm mầu huyền thoại vậy.
Nhà nước trao tặng huân chương Kháng chiến cho bà Vũ Thị Tôi. Khi làm hồ sơ, cán bộ hỏi: “Tên bà là gì?”. Bà trả lời: “Tôi là Tôi”. Cán bộ không tin có cái tên như thế, bèn ghi thành Vũ Thị Tổi. Miền Bắc chỉ có hai gia đình cả 6 người con tòng quân tham gia kháng chiến, gia đình bà Tôi là một.
Gia đình cụ Tuội họ Đinh có 5 con trai thì 3 là Lão thành Cách mạng và cậu út là phó Chủ tịch tỉnh Hà Nam Ninh (cũ)
Cụ Quan Huấn Bùi Cử Lãng từ quan về quê mở trường dạy học. Con cháu cụ theo đạo cha ông luôn giúp đỡ người nghèo. Anh em Bùi Phúc Mạnh + Bùi Đức Hùng kinh doanh phát đạt, giành một phần quà mừng thọ các cụ cao niên nhân dịp đáo tuế hàng năm. Hai anh em cùng phát tâm công đức tôn tạo đình chùa, từ đường, đường làng ngõ xóm, ủng hộ phong trào văn hóa văn nghệ địa phương.
Cụ Lê Thị Hiền sống độc thân luôn vận động con cháu làm việc thiện, bản thân cụ đã ủng hộ nhiều lần, với số tiền nhiều triệu đồng cho quê hương dòng tộc.
Mối liên hệ của làng ven cố đô Hoa Lư, còn lưu trong câu phương ngôn “Trai Trung Trữ nữ Trường Yên”. Nữ Trường Yên tài hoa, xinh đẹp, trai Trung Trữ kiệt xuất anh hùng – khỏi phải bàn.
Và, còn bao nhân kiệt của Trung Trữ làng ven cố đô Hoa Lư.
Trên 500 năm đã trôi qua, từ ngày cụ thuỷ tổ Đinh Thế Dong đặt nhát cuốc khai phá miền đất phía đông cố đô Hoa Lư, từ ngày các cụ 3 dòng họ vì chán cảnh “ông anh Trường Yên Thượng” phạt vạ “ông em Trung Trữ” lễ giỗ chậm trễ, đã đầu đơn xin lập xã mới .Và, những ai là hậu duệ Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, của bảy ông tuẫn tiết sau khi chôn vua Đinh, thờ tại Đền Khống bên gốc cây thị nghìn tuổi.
Nhớ ơn tiên tổ, từ ngày đầu lập xã, Trung Trữ đã xây đình, chùa, đền, miếu thờ các nhân thần Vua Đinh Tiên Hoàng, Vua Lê Đại Hành, Thái hậu Dương Vân Nga, thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh, thờ lưỡng triều Đinh Lê. Đến nay, hàng năm Trung Trữ vẫn giữ tục lệ giỗ Vua cha (16/8 âm lịch giỗ vua Đinh, 8/3 âm lịch giỗ vua Lê)
Và người Trung Trữ thờ các vị thiên thần “Bản thổ hương sơn linh ứng đại sơn thần”, “An trấn khôn sơn uy linh thần” chỉ người gốc cố đô Hoa Lư mới thờ cúng các vị thần của một vùng núi sông hùng vĩ mà Đinh Bộ Lĩnh đã chọn để định đô của nước Đại Cồ Việt.
Khi còn nghèo thì xây chùa Bần – đình chùa dựng bằng tranh tre nứa lá. Nhưng tất cả đều hướng cưả tiền về núi Mã Yên – Lăng Đinh Tiên Hoàng.
Đình chùa làng Trung Trữ được gìn giữ, tôn tạo khang trang – nơi chứng kiến người Trung Trữ suốt chiều dài lịch sử dựng làng, bảo vệ làng đã lập nên bao kỳ tích. Và, năm 1991 đã được nhà nước xếp hạng “Di tích Lịch sử – Văn hóa” cấp Quốc gia.
Ngược thời gian, Trung Trữ còn lưu 27 sắc phong thần của nhà Nguyễn, từ Gia Long đến Khải Định .
Năm 1968, Nhà văn Trần Hữu Tòng chuẩn bị đi B về thăm con gái gửi bà ngoại nuôi, đúng ngày hổ về làng Trung Trữ, anh đã chứng kiến con hổ vằn đã vồ chết 1 em học sinh lớp 9 và làm bị thương 1 anh du kích, buộc du kích phải bao vây diệt hổ bảo vệ dân làng như thế nào. Và, con gái 3 tuổi của anh đã dám “vuốt râu hùm” ngày ấy, nay trở thành bông hồng vàng thứ 28 trong 100 bông hồng vàng cả nước. Anh nói Trung Trữ nhiều huyền thoại để viết thành văn lắm.
Đại lễ hội “Nghìn năm Thăng Long – Hà Nội” đang đến gần, Trung Trữ truyền thống anh hùng lập làng, giữ nước, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Kiệu son đã sẵn sàng.
Bùi Đình Hiển
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét